Nguyễn Ngọc Thạch: Người ‘định đô’ lại thành Thăng Long


Phát hiện gần đây của ông Nguyễn Ngọc Thạch (người dịch văn bia) liên quan đến vua Lý Công Uẩn – vị vua khai sáng của nhà Lý, người đã rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long cách đây ngàn năm trước…

“Chữ nho có tới 214 chữ cái nghĩa là gấp 9 lần số chữ cái của tiếng Việt, mặt khác không mặt chữ nào giống mặt chữ nào, một chữ có rất nhiều nghĩa. Học chữ đã khó, dịch văn bia bằng chữ cổ còn khó hơn nhiều lần. Thế nhưng khi dịch được rồi thì say mê không dứt ra được”, ông Nguyễn Ngọc Thạch, một “phó thường dân” ở phường Đại Phúc (TP. Bắc Ninh – Bắc Ninh) chia sẻ.

Gần chục năm qua, ông đã đến hàng trăm đền, chùa; dịch hàng trăm bia đá khắp vùng Kinh Bắc và phát hiện ra bao điều lý thú sau mỗi tấm bia của tiền nhân.

Sáu chục bài viết vào sọt rác

Vốn là một cán bộ địa chất, từng bôn ba nay đây mai đó, cái mộng suốt đời của ông Thạch là làm sao cho con cái học hành nên người. Năm 2000, khi đứa con út học xong đại học và có công việc ổn định, nhìn lại ông thấy mình là một kẻ “phó của phó thường dân, chẳng nhẽ không để lại cho đời một thứ gì, không làm gì để tạo nền tảng cho con cháu phấn đấu?” Trăn trở, suy tư ông quyết định phải làm một điều gì đó.

Ông Nguyễn Ngọc Thạch, Ảnh: Hoàng Giang

Một lần trong lúc trà dư tửu hậu, ông biết niềm đam mê cháy bỏng của anh trai mình là nghiên cứu chữ Hán cổ.

“Hán tự cổ hay và thâm thúy, nếu rảnh và muốn để lại gì cho đời thì chú thử tìm hiểu. Cả đời anh tìm hiểu, rút cuộc cũng chỉ được một dúm chữ”. Câu nói của ông anh nửa thật, nửa đùa, nửa khiêu khích, nửa chê bai. Nhưng ông Thạch đã quyết định bước chân vào thế giới của chữ nghĩa, của Hán văn.“Không lẽ mình lại không dám vào, không lẽ mình không làm được?”, ông tự hỏi.

Nghĩ là làm, ông định học một cách “chính quy và bài bản” ở trường đại học nhưng tìm hiểu thì được trả lời là các trường không đào tạo về Hán tự cổ. Hơn nữa sáu mươi tuổi rồi còn đi học gì nữa. Giữa lúc băn khoăn, ông đã bắt gặp cuốn Hán văn tự học của Nguyễn Khuê. “Lúc đó, tôi sướng đến run người, thần kinh bừng bừng tựa như người lạc lối tìm được đường đi vậy…”, ông Thạch nhớ lại.

Thế nhưng, sự học chẳng dễ, chả trách ông anh Nguyễn Đăng Vỹ đã “thách thức” ông như vậy.

Sau ba tháng mày mò tự học, ông thấy thứ chữ này quả thực khó, “quá khó” và ông quyết định bỏ cuộc. Chữ Hán cổ thật sự “rối rắm” và có lẽ “nó không dành cho mình”.

Nghĩ là vậy, nhưng đêm nằm, ông lại suy tư trăn trở: “Nếu mình bỏ không học nữa thì chẳng những sẽ bị bạn bè, anh em chê cười mà quan trọng hơn là tự mình sẽ cảm thấy hổ thẹn với chí khí của mình, tự mình sẽ thấy mình hèn kém”. Và thế là, ông quyết định quay trở lại.

Và ông lại lao vào học, học ngày học đêm, không tiếc thời gian, không tiếc công sức, học quên ăn quên ngủ. Và cuối cùng tình yêu và lòng quyết tâm của ông đã được đền đáp. Sau bốn năm, bài dịch đầu tiên của ông đã được đăng báo.

Nhớ lại cái cảm giác khi nhận tờ báo biếu đầu tiên, ông kể: “Đến hôm nay, tôi vẫn không thể quên được cảm giác đấy, tôi run đến mức xé phóng bì mà rách cả tờ báo. Để có được bài báo đầu tiên ấy, tôi đã có đến hàng năm, sáu chục bài không được sử dụng, hàng năm, sáu chục bài bị vứt vào sọt rác”.

Và cũng từ bài báo đầu tiên được đăng là động lực để ông tiếp tục dấn thân trên con đường dịch văn bia.

Niềm say mê và những phát hiện lý thú

Cho đến nay ông Thạch đã dịch hơn 300 văn bia ở Bắc Ninh và các vùng gần xa. Trong nhiều năm gần đây, hễ cứ nghe ở đâu có văn bia cổ là ông tìm đến. Các tấm bia ở quanh vùng như tấm bia ở đền thờ họ Hạ (Hạ Bá Cang) ở Đáp Cầu, tấm bia ở chùa Đồng Nhân (Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh) và tấm bia ở đền thờ Sỹ Nhiếp ở xã Tam á, huyện Thuận Thành đều đã được ông dịch.

Có lần dịch bia ở chùa xã Trung Chính, huyện Thuận Thành, một ngôi chùa nằm giữa đồng, ông mải mê dịch quên cả ăn trưa. Lần dịch văn bia ở Phúc Tầng (Việt Yên-Bắc Giang) biết trời mưa mà ông vẫn quyết định căng bạt để dịch. Ông làm việc nghiêm túc, cần cù, mê say. Có người ở tận Bắc Giang, Gia Lâm, Đông Anh, Hưng Yên, Đông Triều… mời ông đều vui vẻ đến dịch giúp.

Thù lao tùy tâm người đặt hàng nhưng quan trọng là, sau mỗi công trình, niềm say mê chữ Hán của ông như được chắp thêm cánh. Ông tâm sự: “Cái được nhiều nhất không phải là được về tiền bạc mà là được xã hội tôn trọng, vợ con ủng hộ và tích lũy được thêm nhiều kiến thức cho chính bản thân mình”. Cũng bởi thế, nhiều người ở các tỉnh tìm đến, ông không quản ngại đường sá đến tận nơi để sáp bia rồi đem về dịch.

Nhiều bài dịch của ông được đánh giá cao như bài nghiên cứu “Luy Lâu, Thăng Long là hai hay là một địa danh”. Theo đó, bản dịch tấm bia cổ ở lăng Sĩ Nhiếp (Thuận Thành – Bắc Ninh) khắc vào năm đầu Vĩnh Trị (1676) có đoạn viết: “…Mậu Tài, bổ làm huyện lệnh Vu Dương, chuyển tới làm thái thú Giao Châu, được phong Long Độ Đình Hầu, đóng đô tại Long Biên 40 năm, thọ 90 tuổi”. Từ đó, so với nhiều văn bản của các tác giả khác như Đại Việt sử ký toàn thư (1679), ông Thạch cho rằng: Luy Lâu và Long Biên là cùng một địa danh.

Một phát hiện gần đây nhất của ông liên quan đến vua Lý Công Uẩn – vị vua khai sáng của nhà Lý, người đã rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long cách đây ngàn năm trước. Ông Thạch đã dịch tấm bia Lý Gia Linh Thạch (Hòn đá thiêng của nhà Lý) tại chùa Tiêu (nơi tu hành của nhà sư Lý Vạn Hạnh) ở Từ Sơn, Bắc Ninh. Bia được khắc vào triều Tây Sơn năm Cảnh Thịnh thứ nhất (1793).

Văn tự của bia có đoạn viết: Bà mẹ họ Phạm là người ở huyện Đông Ngàn, Hoa Lâm đi vãng cảnh chùa, thường thấy một thần hầu đến mách bảo và đưa bà vào hang núi Ba Tiêu huyễn hóa, trong hang có mùi thơm lừng và khí hơi mù mịt. Vì đã để lại sự tích bà mẹ họ Phạm có thai đẻ ra vua Lý (Lý Thái Tổ) trong cuộc đi chơi vãng cảnh chùa cổ, Tăng (Lý Vạn Hạnh) thấy sự việc trên rất lạ bèn lấy hòn đá to ở trong hang làm bia ghi lại sự tích.

“Chữ nho có tới 214 chữ cái nghĩa là gấp 9 lần số chữ cái của tiếng Việt, mặt khác không mặt chữ nào giống mặt chữ nào, một chữ có rất nhiều nghĩa. Học chữ đã khó, dịch văn bia bằng chữ cổ còn khó hơn nhiều lần. Thế nhưng khi dịch được rồi thì say mê không dứt ra được”. Ảnh, Hoàng Giang

Vốn quý của ông cha

Không dám khẳng định nội dung của các bản văn bia do ông dịch đều là đúng trăm phần trăm, nhưng ông đã cố gắng hết sức để có thể chuyển tải một cách trung thành nhất nội dung của văn bia. Ông làm việc cẩn thận. Ngoài vốn kiến thức của bản thân, ông thường xuyên sử dụng hàng chục cuốn tự điển, từ điển để tra cứu, sử dụng các tài liệu có liên quan, mạng Internet để có thể hiểu được chính xác nghĩa của từ, của câu văn.

Sau gần chục năm tự học Hán văn cổ rồi mày mò dịch văn bia, ông nghiệm ra rằng: không có con đường nào tới được vinh quang mà không phải trả bằng máu, mồ hôi và nước mắt. Để có thể dịch được hàng trăm văn bia thì điều quyết định là phải có tình yêu, sự quyết tâm, lòng kiên trì và nhất là niềm say mê với vốn cổ của tiền nhân để lại.

Ông cho rằng: Bên cạnh các bia đá bằng Hán văn cổ rất cần các bản dịch bằng chữ quốc ngữ để những người dân có thể đọc và hiểu được những bài văn, để không “xấu hổ”, không “tự ti” vì đến chùa, đến miếu mà không hiểu ông cha nói gì, viết gì trên những tấm bia. Sẽ rất quý nếu con cháu không những giữ gìn được những tấm bia mà còn hiểu được điều tổ tiên muốn nói.

Tác giả: HOÀNG GIANG (Tuanvietnam)

Advertisements