Nhân Văn Giai Phẩm: Phan Khôi – Chương 1


Một bài viết khá hay, có nhiều chi tiết giá trị được  trích tổng hợp từ nhiều nguồn. Trong đó có nói đến Ai viết những bài ký tên Nguyễn Ái Quấc tại Pháp từ 1919 đến 1923?

Thụy Khê

Chương 1a : Những phong trào chống Pháp đầu thế kỷ XX

Huyền thoại Hồ Chí Minh bắt nguồn từ cái tên Nguyễn Ái Quốc. Những bài ký tên Nguyễn Ái Quấc trên các tờ báo ở Paris, đã có ảnh hưởng lớn đến giới trí thức trong nước. Nhưng ai là người viết những bài báo này ? Nguyễn Tất Thành có phải là tác giả như Hồ Chí Minh đã nhìn nhận hay không ? Giải quyết vấn đề văn bản này, sẽ hiểu được thái độ “khi quân” của Phan Khôi trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm.

Phan Châu Trinh, lãnh đạo tinh thần phong trào Duy Tân. Phan Khôi, lãnh đạo tinh thần phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Đông Kinh Nghiã Thục (gắn bó với Duy Tân và Đông Du) chỉ tồn tại một năm. Nhân Văn Giai Phẩm tồn tại năm tháng. Nhưng cả phong trào hai đều có công lớn trong việc đổi mới văn học và đòi hỏi dân chủ cho đất nước. Lịch sử Phan Châu Trinh đã rõ ràng tường tận. Lịch sử Phan Khôi, hoặc bị nhục mạ như một người bán nước, hoặc không ai biết đến.

Việc tìm lại chân dung đích thực của Phan Khôi, đưa chúng ta trở lại tìm hiểu lịch sử chống Pháp đầu thế kỷ XX, môi trường phát xuất một con người. Để:
1) Xác định vị trí Phan Khôi trong văn học và trong lịch sử phức tạp của cuộc kháng chiến chống Pháp
2) Hiểu thái độ Phan Khôi, đôi khi coi thường, đôi khi miệt thị Hồ Chí Minh, khác hẳn với toàn bộ thành viên của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.
3) Hiểu sự thanh trừng và hạ nhục Phan Khôi sau Nhân Văn Giai Phẩm

Muốn hiểu sự đối đầu, gần như khinh mạn này của Phan Khôi đối với Hồ Chí Minh, cần xem lại khung cảnh lịch sử mà hai nhân vật đã sống, để xác định những nét nổi bật của Phan Khôi như một nhà văn hoá đối lập với nhà lãnh tụ Hồ Chí Minh. Một học giả mà công lao xây dựng nền quốc học ngang với Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn.

Bước sang thế kỷ XXI đã 10 năm và đất nước đã thống nhất 35 năm, có lẽ đã đến lúc chúng ta nên sửa soạn viết lại lịch sử Việt nam một cách khoa học và đúng đắn, không thể trông cậy mãi vào các nhà nghiên cứu nước ngoài để tìm lại sự thực về lịch sử dân tộc: Georges Boudarel và gần đây, Heinz Schutte đã viết về Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (bản dịch trên Talawas) một cách trung thực. Daniel Hémery, Pierre Brocheux đều tìm cách vẽ những chân dung Hồ Chí Minh khác với cách nhìn chính thống. Những công trình này rất bổ ích, nhưng không thể thay thế cho việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam của chính người Việt.

Những điều vô lý trong tiểu sử Hồ Chí Minh, chỉ có thể tháo gỡ qua những tìm kiếm của người Việt, trong sự nhìn lại toàn diện bối cảnh lịch sử, văn hoá Việt Nam mà người ngoại quốc khó có thể thấy được. Về phía người Việt, dường như có một quy ước bất thành văn “không đụng đến bác Hồ”, ở một số nhà nghiên cứu phái tả. Lác đác một vài bài của các nhà phái hữu, nhưng thường phiến diện, không có những kiến giải chắc chắn. Cả hai thái độ đều không mang lại cho lịch sử Việt Nam một ánh sáng mới nào.

Đã đến lúc, phải tìm lại chân dung đích thực của những nhà cách mạng, những người đã bị bôi nhọ, chôn vùi như Phan Khôi, bên cạnh những người được sùng bái thái quá như Hồ Chí Minh, để thế hệ sau có những điểm tựa mà đánh giá lại lịch sử, một cách công bằng, trung thực.

Cần vương, Văn thân và Duy tân

1862, Pháp chiếm 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ, triều đình Huế ký hoà ước Nhâm Tuất 1862, nhường đứt cho Pháp: Biên Hoà, Định Tường và Gia Định.Tướng De la Grandière lập trường dạy tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ ở Nam Kỳ. 1867, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây: Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tận.
1873, Hà thành thất thủ lần thứ nhất. Nguyễn Tri Phương bị bắt, nhịn ăn mà chết. Triều đình ký hòa ước Giáp Tuất 1874, nhường nốt cho Pháp: Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
Vua Tự Đức thế cùng, phải chịu, nhưng vẫn trông cậy vào Trung Hoa, hy vọng nhà Thanh sẽ giúp nước ta khôi phục lại lãnh thổ.
1882, Hà thành thất thủ lần thứ hai, Hoàng Diệu tuẫn tiết. Trong tình hình cực kỳ rối ren, vua Tự Đức mất (1883). Nhà Thanh không giúp mà còn bắt tay với Pháp, nhường cho Pháp toàn quyền định đoạt mọi việc ở Việt Nam: hoà ước Giáp Thân (Patenôtre) 1884, nước ta mất quyền tự chủ cả ở Trung và Bắc, hoàn toàn trở thành thuộc địa của Pháp.
Trong 20 năm Pháp chiếm dần nước Việt (1862-1882), ba quan đại thần Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu tuẫn tiết.

Trong suốt thời kỳ bị đô hộ, không lúc nào việc chống Pháp ngừng hẳn. Cuộc kháng chiến bắt đầu bằng các phong trào quốc dân, do các cựu thần và trí thức nho học khởi xướng từ 1862, và kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, của phong trào cộng sản.
– Mục tiêu quốc dân: lấy lại chủ quyền dân tộc, bảo vệ vương quyền và đạo lý Khổng Mạnh. Sau này, hai chữ quốc dân được hiện đại hoá, trở thành quốc gia (nationaliste), bỏ hai vế vương quyền và Khổng Mạnh, chỉ giữ lại quyền lợi của dân tộc.
– Mục tiêu cộng sản: Theo Đệ Tam quốc tế để giành độc lập, thực hiện cách mạng vô sản, đấu tranh giai cấp và xây dựng xã hội chủ nghiã.

Phong trào quốc dân hiện diện dưới ba hình thức: cần vương (cứu vua), văn thân (lấy văn học tiến thân vào đời) và duy tân (đổi mới – réforme).
Thời kỳ đầu, dân còn gắn bó với vua, hình thức cần vương và bạo động nổi trội: Những người khởi xướng phần lớn là các quan hoặc các thân hào, sĩ phu:
1862, mất 3 tỉnh miền đông, Trương Công Định khởi nghiã ở Gò Công. Thủ Khoa Huân ở Định Tường… 1874, mất 3 tỉnh miền Tây, Văn thân khởi nghiã ở Nghệ An, Hà Tĩnh, khẩu hiệu “Bình Tây sát tả” [dẹp Tây, diệt tà (đạo)]. 1885: Tôn Thất Thuyết đánh Pháp ở Mang Cá, truyền hịchCần vương, đem vua Hàm Nghi ra Quảng Bình, rồi bỏ chạy sang Tàu. Hai con ông là Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm phò vua đến chết (1885-1888). Nguyễn Thiện Thuật khởi nghiã ở Bãi Sậy (1885-1889). Phan Đình Phùng lập đảng Văn thân (1885-1895). 1886, Đinh Công Tráng khởi nghiã ở Thanh Hoá. 1988, Kỳ Đồng ở Hải Dương. 1890, Hoàng Hoa Thám dựng chiến khu tự trị ở Yên Thế (1890-1913)…

Đầu thế kỷ XX, cuộc kháng chiến bước sang một cục diện khác với các trí thức nho học:
Phan Bội Châu lập Duy Tân Hội (1904), sau đổi thành Việt nam Quang Phục hội (1911). Phan Châu Trinh lãnh đạo phong trào Duy tân (1905-1908). Quang Phục Hội tổ chức khởi nghiã vua Duy Tân (1916). Lương Ngọc Quyến, Đội Cấn khởi nghiã Thái Nguyên (1917). Nguyễn Thái Học lập Việt Nam Quốc Dân Đảng (1927-1932), theo chủ nghiã Tam dân của Tôn Dật Tiên. Lý Thụy (Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc) lập Việt Nam thanh niên cách mệnh đồng chí hội(1925), tiền thân của đảng Cộng sản, tại Quảng Châu.

Trần Dân Tiên (tức Hồ Chí Minh) trong cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch (nxb Sự thật, 1975) so sánh mục tiêu của hai đảng Quốc dân và Cộng sản như sau:
-“1927 Việt nam Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu, theo chủ nghiã Tam Dân của Tôn Dật Tiên: -Dân tộc độc lập -Dân quyền tự do -Dân sinh hạnh phúc”.
-“Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội và Đảng Cộng sản: -Dân tộc độc lập -Nhân dân tự do -Dân chúng hạnh phúc -Tiến tới chủ nghiã xã hội”
(TDT, trang 66-79).
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, thì chủ trương của hai đảng này giống nhau, ngoại trừ điểm “tiến tới chủ nghiã xã hội” không có trong mục tiêu Quốc dân Đảng.

Nguyễn Tường Bách (em Nhất Linh) trong Việt Nam một thế kỷ qua (cuốn I, Thạch Ngữ, Cali 1998), tóm tắt các hoạt động cách mạng VN ở Trung Hoa, trong khoảng 1942-1943, như sau:
“Tháng 10/1942, Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội do Trương Bội Công, rồi Nguyễn Hải Thần lãnh đạo, với đại diện của Việt Nam Quốc Dân Đảng, Phục Quốc, Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (tức Việt Minh, thành lập từ tháng 5/1941) và một số không đảng phái.
Anh Tam lúc này lấy tên là Nguyễn Tường Dũng (đúng như tên anh chàng Dũng trong Đoạn Tuyệt), bị giam vào một hang đá gần Liễu Châu… Một ngẫu nhiên kỳ lạ là trong hang đá ấy, còn một người Việt bị giam nữa, với cái tên là Hồ Chí Minh. Đồng Minh Hội cử hai anh Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ đến thăm Nguyễn Tường Tam để hiểu rõ lai do. Về sau Hội quyết định yêu cầu tướng Trương Phát Khuê trả tự do cho anh Tam và cả người Việt cùng bị giam, Hồ Chí Minh, vì đều là người Việt yêu nước phải lưu vong tới đây. Cả hai đều được đưa về hội quán, nhưng không ai rõ Hồ Chí Minh tức là Nguyễn Ái Quốc. Trước đây, Nguyễn Ái Quốc đã từng hoạt động ở Quảng Đông dưới tên là Lý Thụy, trợ tá cho Borodine, cố vấn Liên Xô cho đảng CS Trung Quốc trước và sau công xã Quảng Châu.
Vào năm 1943, Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội đặt kế hoạch hoạt động ở trong nước, phái cán bộ về với với một số tiền hoạt động, Hồ Chí Minh chủ động nhận nhiệm vụ, lãnh người và tiền về nước, hoạt động ở biên giới Cao Bằng, tiến tới lập căn cứ sau này.
Còn Nguyễn Tường Tam cũng rời Liễu Châu đi Côn Minh, sau khi bộ Tư Lệnh Quân Khu 4 phải rút về gần biên giới Việt Nam. Tại đó, anh bắt đầu hợp tác với Vũ Hồng Khanh cùng Hải ngoại bộ VNQĐD, cùng liên lạc với trong nước.”
(Nguyễn Tường Bách, sđd, trang 140)
Như vậy, đến 1943, Hồ Chí Minh vẫn còn hoạt động dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Hải Thần.

Về cái tên Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Tường Bách viết:
“Ngày 2/9 chính phủ Hồ Chí Minh làm lễ tuyên thệ độc lập ở Quảng trường Ba Đình. Tôi đã biết từ lâu Hồ Chí Minh ngày nay là Nguyễn Ái Quốc mà chúng tôi vẫn khâm phục như một nhân vật thần kỳ thời thiếu niên. Éo le là vận mệnh đã làm cho tôi đứng vào hàng ngũ đối lập”(Nguyễn Tường Bách, Việt Nam những ngày lịch sử, Tủ sách nghiên cứu, Montréal, 1981, trang 70)

Không chỉ có Nguyễn Tường Bách mà Đặng Thai Mai cũng viết tương tự:
“Chúng tôi được đọc báo Nhân đạo và những tờ báo Bác Hồ viết ở Pháp như tờ Le Paria. Chúng tôi nhận những sách báo đó qua cụ Ngô Đức Kế, lúc đó đang làm báo Hữu Thanh (…) Kể từ những năm 1925 trở đi, chúng tôi hiểu được Liên Xô hơn vì được đọc các báo Việt Nam hồn, Le Paria, L’Humanité, do thuỷ thủ Pháp, đảng viên đảng Cộng sản đưa vào Sàigòn” (Đặng Thai Mai Hồi ký, Tác phẩm mới, 1985, trang 355)

Tóm lại, những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc trên các tờ báo ở Paris, đã có ảnh hưởng lớn đến giới trí thức trẻ trong nước. Nhưng ai là người viết những bài báo này? Nguyễn Tất Thành có phải là tác giả như Hồ Chí Minh đã nhìn nhận hay không? Đó là một sự thực cần tìm hiểu. Có thể nói, huyền thoại Hồ Chí Minh bắt nguồn từ cái tên Nguyễn Ái Quốc, tác giả các bài báo ở Paris thập niên 1920.

Cuộc cách mạng hiện đại đầu thế kỷ XX

Trở lại những năm đầu thế kỷ XX, sau thất bại liên tiếp của các phong trào cần vương và văn thân: một thế hệ kháng chiến mới hình thành với những trí thức khoa bảng nho học, trong hai chuyển động lớn: Phong trào Đông Du (1906-108) do Phan Bội Châu lãnh đạo và Phong trào Duy Tân (1905-1908) do Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng chủ xướng.
Nhờ hai thủ lĩnh Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, hai phong trào này phát động tinh thần yêu nước, phát sinh hình thức kháng chiến hiện đại của các trí thức nho học, và sẽ là nguồn gốc của các tổ chức kháng chiến sau này.

Còn một phong trào thứ ba, ít được biết đến, vì phần lớn văn bản viết tiếng Pháp, trên đất Pháp. Những người chủ chốt như Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh không theo cộng sản, và hậu duệ của họ là nhóm Đệ tứ, đã bị cộng sản tiêu diệt từ 1945.
Đó là Phong trào chống Pháp của các trí thức Tây học, xuất thân trường Pháp, chống Pháp trên báo chí tiếng Pháp, tại Paris và tại Sàigòn.

Phong trào này do Phan Văn Trường khởi xướng ở Paris, năm 1912, với hội Đồng Bào Thân ái, cùng với Phan Châu Trinh. Sau được ba thanh niên Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành tiếp sức, được đồng bào gọi là nhóm Ngũ Long, đã có ảnh hưởng lớn trong việc chống thực dân, tại Pháp những năm 1920, với bút hiệu chung Nguyễn Ái Quấc. Sau họ là nhóm Đệ tứ, gồm những đệ tử của Nguyễn An Ninh như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường, Huỳnh Văn Phương… tiếp tục tranh đấu đến 1945.

Trong thời kỳ đầu, những phong trào chống Pháp không đối kháng nhau mà cùng hoạt động chung. Đến 1945 mới bị phân liệt, Việt Minh thanh trừng các đảng phái đối lập, thủ tiêu gần trọn nhóm Trốt kít, trừ Hồ Hữu Tường trốn ở Hà Nội nên thoát. Sau khi lên cầm quyền, Hồ Chí Minh, không những gạt bỏ các thành phần đối lập ra ngoài lịch sử chính thống mà còn gán cho họ nhãn hiệu phản quốc.

Lịch sử Phan Khôi và Hồ Chí Minh gắn bó với cả ba phong trào nói trên. Đưa ra những câu hỏi cần phải giải quyết:
– Trong khi hầu hết các thành viên khác của NVGP, vẫn kính nể “bác Hồ”, tại sao Phan Khôi lại “dám” đả kích công khai thần tượng Hồ Chí Minh ?
– Sau NVGP, lệnh nhục mạ và bôi nhọ Phan Khôi trong nhiều thập niên đến từ đâu và bởi ai? Sự nhục mạ này dẫn đến cái chết bí ẩn gần như bức tử của Phan Khôi năm 1959.

Phan Khôi và Nguyễn Tất Thành, hai thanh niên nho học được Phan Châu Trinh trông cậy sẽ “kế nghiệp” mình. 1922, thất vọng vì Nguyễn Tất Thành không chịu về nước và chọn con đường cộng sản, Phan Châu Trinh viết bức thư công khai gửi Nguyễn Ái Quốc, gần như đoạn tuyệt. 1925, về nước, Phan Châu Trinh trao di sản tinh thần cho Phan Khôi.

Cuộc đời Phan Khôi gắn bó với lịch sử đấu tranh bất bạo động của phong trào Duy tân, theo truyền thống Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895).
Vì vậy, muốn tìm hiểu tư tưởng của Phan Khôi, cần phải nhìn lại hành trình cách mạng chống Pháp trong thế kỷ XX. Hành trình này bắt đầu với Phan Bội Châu.

Phan Bội Châu

Phan Bội Châu (1867- 1940) sinh ngày 26/12/1867, tại làng Đan Nhiệm, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Mất ngày 29/10/1940, tại Huế. Là cha đẻ của nền cách mạng hiện đại trong thế kỷ XX. Chính trị gia, nhưng cũng là nhà văn nhà thơ lớn, văn chương Phan Bội Châu có khả năng thúc giục con người đứng lên cứu nước. Về văn thơ yêu nước, không tác giả nào sánh kịp Phan Bội Châu. Mỗi tác phẩm là một chặng đường. Tác phẩm nào cũng quyền biến cũng “sai bảo” con người phải hành động trước cái nhục nô lệ, mất nước. Trong khi các nhà cách mạng khác tìm cách đánh vào địch thủ, tức là thực dân Pháp, hay bọn quan trường thối nát, thì Phan Bội Châu, trước hết, đánh vào lòng người. Và chính cái lòng người được thúc giục vùng dậy ấy, sẽ đứng lên cứu nước. Phan Bội Châu (cũng như các nhà nho cùng thời) thường viết bằng Hán văn và khi dịch ra quốc ngữ, theo Huỳnh Thúc Kháng, cái hay đã mất đi một nửa, vậy mà ngày nay chúng ta đọc vẫn còn thấy xúc động gai người.
Phan Bội Châu xứng đáng ngôi vị cha già của dân tộc.

Khi Phan ra đời, năm 1867, nước đã mất ba tỉnh Nam Kỳ. Chín tuổi, Phan “tập trận” theo kiểu “bình Tây”. 19 tuổi, cùng Trần Văn Lương lập đảng “Sĩ tử cần vương đội”, khoảng 100 người, mưu “việc lớn”. Pháp đánh Nghệ An, “đội sĩ tử” tan vỡ. Phan ở nhà trông nom cha trong 9 năm và dạy học, nhưng vẫn thầm mưu việc nước. 1900, cha mất, bắt đầu hoạt động: liên kết với các đồng chí của Phan Đình Phùng. Cùng Phan Bá Ngọc (con trai Phan Đình Phùng) và dư đảng Văn thân, tổ chức đánh thành Nghệ An, nhân ngày 14/7/1901 (quốc khánh Pháp), nhưng không thành. Cuối năm 1902, ra Bắc gặp Đề Thám lần đầu. Mùa xuân 1903, gặp Tiểu La Nguyễn Thành cựu đảng viên Cần Vương ở Quảng Nam. Nguyễn Thành khuyên Phan nên tôn vinh một dòng dõi đế vương để có chính nghiã. Phan yết kiến Kỳ Ngoại Hầu Cường Để [Kỳ ngoại hầu là ông hầu ngoài kinh kỳ, tức dòng hoàng tử Cảnh]. Hầu chấp nhận. Phan viết bảnLưu Cầu huyết lệ tân thư (1903) để dò phản ứng của sĩ phu và thuyết phục quan trường [lấy Lưu Cầu, tên một quốc đảo phụ thuộc vào Trung Hoa bị Nhật chiếm năm 1879, làm ẩn dụ]. Văn bản có 5 phần: 1- Nêu sự tủi nhục của người dân mất nước. 2- Cần mở mang dân trí, mưu đồ phục quốc. 3- Phục hưng dân tộc. 4- Đào tạo nhân tài. 5- Kỳ vọng vào các hào kiệt.
Cuối 1903, Phan vào Nam vận động. Đầu 1904, trở về Quảng Nam, họp với Nguyễn Thành và Kỳ Ngoại Hầu, rồi lại ra Bắc gặp Đề Thám, quyết định mở đại hội.
Đầu tháng tư (âm lịch) 1904, khai hội ở nhà trên núi của Nguyễn Thành với Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và hai chục người tâm huyết, bí mật lập Duy Tân hội, tôn Cường Để làm Hội chủ, chủ trương ba điểm:
1- Chiêu mộ đảng viên.
2- Phát sinh bạo động.
3- Cầu ngoại viện.
Về việc cầu viện, không thể nhờ Tàu vì Tàu đã theo Pháp. Tăng Bạt Hổ đã sang Nhật nhiều lần, biết tiếng Nhật, đề nghị nhờ Nhật. Phan Bội Châu được đảng cử sang Nhật.

Ngày 23/2/1905, Phan Bội Châu cùng Tăng Bạt Hổ và Đặng Tử Kính bí mật lên đường đi Hương Cảng rồi Nhật Bản. Gặp Lương Khải Siêu. Lương khuyên: Quý quốc đừng lo không được độc lập mà chỉ lo dân không đủ [khả năng để] độc lập. Có thể nhờ Lưỡng-Quảng viện trợ lương thực và khí giới, nhưng nếu [dân] không có thực lực thì cũng hỏng. Thực lực tức là: Dân trí, dân khí và nhân tài. Phan nói đến việc cầu viện Nhật, Lương gạt đi: Quân Nhật đã một lần vào nước rồi, thì không thể đuổi nó ra được. Lời khuyên của Lương Khải Siêu thật là sâu sắc.
Lương dẫn Phan đến gặp Khuyển Dưỡng Nghị và Đại Ôi, những lãnh đạo chính trị cấp tiến của Nhật bản. Đại, Khuyển dè dặt hơn: Chúng tôi có thể giúp lương thực, còn giúp khí giới thì phải tuyên chiến với Pháp, điều rất khó. Phan thất vọng. Lương khuyên hai giải pháp:
– Dùng lời văn để thức tỉnh lòng dân và đánh động dư luận thế giới.
– Về nước cổ động thanh niên xuất dương du học, xây dựng vững nền tảng: dân trí, dân khí nhân tài.

Nghe Lương, Phan viết Việt nam Vong quốc sử (1905) và nhờ Lương in hộ. Lương nhận lời ngay. Cuối tháng 6, năm Ất Tỵ (1905), Phan Bội Châu và Đặng Tử Kính lén đem 50 bản Việt nam Vong quốc sử về nước. Tác phẩm có tác động như quả bom thứ nhì sau Lưu Cầu huyết lệ tân thư.
1905 còn là cái mốc quan trọng trong tình hình thế giới: Nhật thắng Nga tại eo biển Đối Mã: Người da vàng lấy lại niềm tin, biết có thể thắng được người da trắng đang “làm chủ” thế giới.
Phan Bội Châu về nước với mục đích đem Cường Để và một số sinh viên sang Nhật. Tháng 7 (Ất tỵ, 1905), Phan họp với Đặng Nguyên Cẩn trong một chiếc thuyền trên sông Lam, rồi gặp Ngô Đức Kế (thủ lãnh phong trào Duy Tân và Đông Du Nghệ-Tĩnh) ở Nghèn, bàn việc kinh tài cho phong trào Đông du. Tháng 4/1906, Đặng Nguyên Cẩn và Ngô Đức Kế bắt tay vào việc xây dựng các cơ sở thương mại: Triêu Dương thương quán được thành lập khoảng tháng 11/1906, và các Nông hội, các Học hội khác lần lượt ra đời.

Phan lại lên đường sang Nhật. Gặp lại Lương Khải Siêu, nói đến những khó khăn về việc tìm sinh viên và kiếm trợ cấp. Lương khuyên nên có một bài văn cổ động việc này, Phan viết “Khuyến quốc dân tư trợ du học văn”, (Khuyên dân đóng góp cho việc du học), Lương in dùm ngàn trang để gửi về nước. Một lần nữa, tác phẩm của Phan Bội Châu lại gây xao động lòng dân: dân chúng đóng góp và sinh viên bắt đầu tìm đường sang Nhật.
Khuyển giới thiệu Phan với Tôn Dật Tiên. Hội đàm 2 lần. Tôn khuyên Phan nên bỏ quân chủ mà chuyển sang dân chủ, nên liên kết với đảng Quốc dân của Trung Hoa để cùng tranh đấu. Nhưng không đi đến thoả thuận nào.

Đầu năm 1906, Phan Bội Châu trở về Hương Cảng đón Kỳ ngoại Hầu. Hai thủ lãnh đã ở hải ngoại, Duy Tân hội có thể công khai, in rõ chương trình hành động, với ba tiêu chỉ: – Đánh đổ Pháp – Khôi phục Việt nam – Kiến thiết nhà nước quân chủ lập hiến. (Lần này có thêm hai chữ lập hiến).
Đầu năm 1906, Phan Châu Trinh qua Hương Cảng. Gặp Phan Bội Châu ở Quảng Đông. Rồi cùng sang Nhật. Trong khoảng một tháng ở chung với nhau tại Nhật, hai người đã tranh luận sôi nổi về đường lối cứu nước, nhưng hai hướng đi đối lập nhau, không thể dung hoà.

Phan Bội Châu: “Cụ thì muốn đánh đổ quân chủ, mà cốt vun trồng nền tảng dân quyền. Dựa vào Pháp mà đánh đổ quân chủ. Còn ý tôi thì muốn đánh đổ người Pháp trước, chờ nước mình độc lập rồi, mới bàn đến việc khác. Vì thế, đương lúc đánh với Pháp, phải lợi dụng quân chủ. (…) Cụ thì muốn dựa vào Pháp đánh đổ vua, tôi ưng theo lối bài Pháp phục Việt, sở dĩ mâu thuẫn với nhau là như thế” (Phan Bội Châu niên biểu tức Tự Phán).
Phan Châu Trinh: “Một là đảng “cách mạng”, một là đảng “tự trị”. Nguồn phát khởi đảng “cách mạng” là Phan Bội Châu. Đảng “tự trị” người phát khởi là Phan mỗ mỗ- Phan Bội Châu chủ trương bạo động- Tôi xướng thuyết dựa vào người Pháp để tự lập” (Phan Châu Trinh, Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam – Nước Việt Nam mới sau khi liên hiệp với Pháp).

Tuy hai lãnh tụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh có hai đường hướng chính trị đối lập nhau, nhưng phần lớn trí thức nho học ủng hộ cả hai phong trào Đông du của Phan Bội Châu và Duy tân của Phan Châu Trinh: Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Lương Văn Can, v.v… Đó là sức mạnh của hai phong trào.
Phan Châu Trinh thấy không thể nhờ Nhật, về nước, xúc tiến việc mở rộng phong trào Duy Tân, tổ chức Đông Kinh Nghiã Thục và từ đây con đường của hai người chia hai ngả:
Phan Bội Châu trở lại Hoành Tân, thảo Hải ngoại huyết thư và viết Kính cáo toàn quốc phụ lão văn thay lời Cường Để, hiệu triệu đồng bào. Lại một lần nữa, ngòi bút của Phan Bội Châu tác dụng lên quần chúng, nhất là người dân Nam Kỳ rất gắn bó với triều Nguyễn, sự đóng góp cho Duy Tân Hội và Kỳ ngoại Hầu cao nhất trong nước.

Năm 1908, cách mạng Việt Nam chịu những tổn thất nặng nề:
– Ở trong nước, phong trào chống thuế ở miền Trung (Trung Kỳ dân biến), do ảnh hưởng Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu, bị đàn áp dã man. Đông Kinh Nghiã Thục và một loạt các trường học, hãng buôn của phong trào Duy Tân và Đông Du bị đóng cửa. Các lãnh tụ Duy Tân và Đông Du: Nguyễn Thành, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh… đồng loạt bị bắt, bị đi đầy. Riêng Trần Quý Cáp, thầy học của Phan Khôi, bị xử chém ngang lưng ở chợ Cạn tỉnh Khánh Hoà do lệnh của Bố chánh Phạm Ngọc Quát. Cái chết bi thảm của Trần Quý Cáp có lẽ là một trong những lý do khiến Phan Khôi sau này phê bình gay gắt tính chất bạo động của các cuộc nổi dậy chống Pháp: Trung kỳ dân biến (1908) và Xô-Viết Nghệ-Tĩnh (30-31).

– Ở ngoài nước, tháng 2 năm Kỷ Dậu (1909), Nhật bắt tay với Pháp, trục xuất Phan Bội Châu, Cường Để và các sinh viên du học. Phan Bội Châu lánh sang Trung Hoa.
1911, Cách mạng Tân Hợi của Tôn Dật Tiên thành công, đem lại nguồn hy vọng mới.
Tháng 10 năm Tân hợi (1911), Phan Bội Châu Châu tuyên bố “thủ tiêu” Duy Tân hội và lập Việt Nam Quang Phục hội [Khôi phục Việt Nam]. Mua vũ khí và chuyển sang chiến đấu võ trang để khôi phục lãnh thổ.
1913, nhiều vụ bạo động xẩy ra ở trong nước do Quang Phục Hội lãnh đạo, nhưng không đem lại kết quả mong muốn. Pháp đàn áp gắt gao. Quần chúng trước ủng hộ Phan Bội Châu, nay ngần ngại. Ảnh hưởng đấu tranh bất bạo động của Phan Châu Trinh, một thời bị lu mờ vì Phan Bội Châu, nay trở lại.
Từ đây, kháng chiến chống Pháp bước sang giai đoạn thứ ba: đòi tự do dân chủ và độc lập bằng ngòi bút. Phan Văn Trường khởi động tại Pháp 1912, lập Hội Đồng bào Thân Ái. Cùng Phan Châu Trinh lãnh đạo phong trào Việt kiều. Tháng 6/1919, ông viết bản Thỉnh nguyện thư của dân tộc An Nam, ký tên Nguyễn Ái Quấc, gửi Hội nghị Hoà bình ở Versailles, công khai đòi tự do dân chủ.

Phan Bội Châu không chỉ là nhà chính trị mà còn là nhà văn, nhà thơ lỗi lạc. Tác phẩm của ông có tác dụng khơi động tinh thần ái quốc của toàn dân. Từ ông, phát sinh dòng cách mạng bạo động: Lương Ngọc Quyến, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Hải Thần, Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam…
Phan Châu Trinh, chủ trương con đường duy tân, dân chủ, tự lực, tự cường. Từ ông, phát xuất các phong trào tranh đấu bất bạo động, bằng ngòi bút: Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường, Phan Khôi… và ngày nay, sau một thế kỷ, vẫn còn chưa thực hiện được.

Lương Ngọc Quyến

Một trong những sinh viên Đông du đầu tiên: Lương Ngọc Quyến
Trong số những sinh viên đầu tiên vượt biển sang Nhật, có anh em Lương Ngọc Quyến, Lương Nghị Khanh, con Lương Văn Can, hiệu trưởng Đông Kinh Nghiã Thục và Nguyễn Hải Thần, môn đệ của Lương Văn Can, sau này sẽ trở thành lãnh tụ Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội. Lương Ngọc Quyến sẽ đi vào huyền thoại. Là một thanh niên “bụi đời” đầu thế kỷ XX, nghệ sĩ, để tóc dài, sang Nhật, học trường quân sự Chấn Võ. Đi “ăn mày” để quyên tiền cho sinh viên Đông du. Tự do, quật khởi, bất khuất. Nhiều năm bôn ba ở Trung Hoa, tìm cách mộ binh đánh Pháp.

Theo Đào Trinh Nhất và Nguyễn Hiến Lê, năm 1915 Lương Ngọc Quyến bị bắt ở Hương Cảng, giải về Hà Nội, giam ở nhiều nơi, rồi đưa lên Thái Nguyên. Darbes, công sứ Thái Nguyên, nổi tiếng bạo ngược nhất đất Bắc, sai dùi bàn chân Lương Ngọc Quyến buộc vào xích sắt. Dù vậy, Quyến vẫn liên lạc với viên đội khố xanh Trịnh Cấn. Đêm 30/8/1917, Trịnh Cấn phá ngục, chiếm đồn, cõng Lương Ngọc Quyến ra để chỉ huy. Nghiã quân làm chủ Thái Nguyên từ 30/8 đến 5/9, lấy cờ năm sao làm quốc kỳ, đặt quốc hiệu là Đại Hùng đế quốc, công bố hai bài tuyên ngôn với quốc dân. Khi quân Pháp tiến đánh, biết thế không giữ nổi, không chịu theo cáng để rút lui, Lương Ngọc Quyến nhờ Trịnh Cấn bắn một phát vào ngực ngày 5/9. Lương để lại bàiCảm tác trước khi mất, lời thơ hùng tráng, bi phẫn. Đội Cấn rút quân chống cự với Pháp thêm mấy tháng nữa. Ngày 5/1/1918, bị vây và bị thương ở Pháo Sơn, chung quanh chỉ còn 4 thủ hạ, Trịnh Cấn tự bắn vào bụng. Hai cái chết oanh liệt bi tráng vào bậc nhất trong lịch sử cách mạng dân tộc. Ngô Đức Kế lúc ấy đang bị tù ở Côn Đảo, làm sáu bài thơ tứ tuyệt chữ Hán tựa đề Thái Nguyên thất nhật Quang Phục ký.
Lương Ngọc Quyến trở thành thần tượng của Nguyễn An Ninh và khởi nghiã Thái Nguyên 1917 dẫn đến khởi nghiã Nguyễn Thái Học 1930.

Phan Châu Trinh và Phong trào Duy Tân

Phong trào Duy Tân chủ trương bất bạo động, khôi phục đất nước bằng con đường nâng cao dân trí, cải tổ xã hội về mọi mặt, kinh tế, giáo dục và văn hoá: Mở mang kinh tế, lập các nhà buôn lớn để tự lực, mở trường dạy học hiện đại: dạy quốc ngữ, bỏ từ chương, thêm khoa học và sinh ngữ. Chọn nền chính trị dân chủ.
Nguyên nhân xa: Tinh thần duy tân bắt nguồn từ những bản điều trần của Phạm Phú Thứ (1821-1882), Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) dâng vua Tự Đức (1829-1883).
Nguyên nhân gần: Tinh thần duy tân bắt nguồn từ Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895) với văn bảnThiên hạ đại thế luận (1892) viết trước khi Tân thư ra đời tại Trung Hoa. Các lãnh tụ Đông Du và Duy Tân, đều đọc và chịu ảnh hưởng của văn bản này trước khi đọc Tân Thư của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu (giới thiệu và dịch Rousseau, Montesquieu sang chữ Hán). Thiên hạ đại thế luận nay đã mất, qua Huỳnh Thúc Kháng, chúng ta có thể biết những điểm chính của bài đại luận:
a- Nước mạnh hay yếu là tại chánh giáo chứ không phải tại lớn nhỏ. (Chánh giáo là nền giáo dục lấy chánh đạo để đào tạo sĩ phu và quốc dân).
b- Trình bày tình trạng tê liệt của nước Trung Hoa. Người Việt Nam đừng trông mong gì nước ấy giúp mình nữa. Chỉ có nước nào biết Duy Tân mà tự cường như Nhật Bản mới mở mặt được.
c- Bàn về cái lẽ suy nhược của Việt Nam.
d- Việt Nam muốn cứu lại nước, không thể theo đường cũ mà phải:
1- Chấn chỉnh chánh giáo.
2- Duy Tân, mở mang mọi phương diện nông, công, thương, kỹ thuật khoa học của Âu Tây.
3- Chờ cơ hội thuận lợi mà cứu nước.

Sau khi trình bày bài luận trên, Huỳnh Thúc Kháng còn viết: “40 năm về trước [tức là năm 1892], mà học giới ta nước ta có người đại văn hào viết bài đại luận tình lý đã xác thực châu đáo mà văn thể cũng hùng kiện, không đáng gọi là Khang, Lương của nước ta hay sao? Chính cụ Sào Nam, cụ Tây Hồ và phần nhiều trong đám tiên thời nhân vật ở xứ ta sở đắc ảnh hưởng của bài ấy rất là sâu xa mật thiết, không kém gì sách Lương, Khang kia” (Theo Nguyễn Văn Xuân, Phong trào Duy Tân, Lá Bối, 1969, trang 33-34)
Đúng như nhận xét của Nguyễn Văn Xuân: “Đại Thế Luận của Nguyễn Lộ Trạch đưa ra nét chính, phác họa một phong trào Duy Tân còn thô sơ. Phải nhờ Phan Châu Trinh mang chủ thuyết Dân quyền về làm Chánh giáo, phong trào Duy Tân mới thực sự mở màn” (Nguyễn Văn Xuân, sđd, trang 35)

Phan Châu Trinh(1872-1926)

Phan Châu Trinh sinh ngày 9/9/1872, tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Cha là Phan Văn Bình, một võ quan ở biên giới vùng núi. Thiếu thời, Phan theo cha học võ và tham dự phong trào Cần Vương. Năm 1887, cha bị lãnh đạo nghi ngờ và xử tử. Phan được anh cả là Phan Văn Cừ trông nom, trở về đi học. Đậu cử nhân năm 1900, phó bảng năm 1901. Bạn học cùng khoá với Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Đình Hiến, Ngô Đức Kế, Nguyễn Sinh Huy (cha của Nguyễn Tất Thành). Tất cả đều đỗ đạt cao. Năm 1903, Phan được bổ Thừa biện Bộ Lễ. Nhưng ông chỉ làm việc hơn một năm rồi xin từ chức.

Tháng 2 năm 1905, Phan Châu Trinh cùng Trần Quý Cáp (1874-1908), Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) tổ chức một chuyến “du Nam” để quan sát tình hình và cổ động tinh thần duy tân. Qua Bình Định, gặp kỳ thi, cả ba mạo danh vào thi. Đề thi là Chí thành thông thánh (Lòng thành động đến thánh hiền). Phan làm bài thơ còn Trần và Huỳnh làm bài phú Danh sơn lương ngọc (Núi có danh sản xuất ra ngọc tốt – Núi có danh vì có người hiền tài). “Bài thơ và bài phú gây chấn động trong giới nho sanh, không khác nào một tiếng sấm nổ rền giữa lúc trời quang mây tạnh” (Lam Giang, Trần Quý Cáp, Đông A, Sàigòn, 1970, trang 148).

Hai tác phẩm này sẽ trở thành văn bản phát động phong trào Duy Tân. Rời Bình Định, ghé Cam Ranh xem hạm đội Nga đậu ở trong vịnh, rồi vào Bình Thuận. Trần và Huỳnh xem xét tình hình rồi về Quảng. Phan bị ốm ở lại Phan Thiết, vận động nhóm duy tân Phan Thiết: Năm 1905, Nguyễn Trọng Lợi mở hội Thanh niên thể dục và tư thục Dục Thanh, dạy học theo tinh thần mới, mời Lương Thúc Kỳ, nhạc phụ của Phan Khôi vào dậy. Phí tổn do công ty cá mắm Liên Thành của Nguyễn Trọng Lợi chu cấp. Đó là những cơ sở đầu tiên của phong trào Duy tân trên đất nước.

1906, Phan Châu Trinh ra Bắc, liên lạc với Lương Văn Can và các thân sĩ Bắc Hà để lập cơ sở Duy tân ở Bắc (sẽ là trường Đông Kinh Nghiã Thục), gặp Đề Thám, sang Quảng Châu gặp Phan Bội Châu rồi cùng sang Nhật. Quan sát tình hình chính trị và dân trí nước Nhật, bàn luận với Phan Bội Châu, biết không cùng chí hướng: Phan Châu Trinh về nước, xúc tiến con đường Duy Tân.

Trở về nước, tháng 10/1906, Phan Châu Trinh gửi cho toàn quyền Paul Beau bản “Đầu Pháp chính phủ thư” (Thư gửi cho nhà cầm quyền Pháp), lên án gắt gao triều đình và quan lại. Vì bài viết này mà ông bị giới quan lại thâm thù. Rồi ông ra Bắc cùng các đồng chí xúc tiến việc mở Đông Kinh nghiã thục.
Nguyễn Hiến Lê viết: “Cụ Tây Hồ là người mở đường cho phong trào duy tân ở nước nhà. Lập Nghiã thục, một phần công lớn là của cụ, gây tư tưởng mới ở Quảng Nam là cụ, đi khắp nơi diễn thuyết là cụ, khuyên quốc dân cắt tóc là cụ, liệng cái phó bảng mà ra lập hiệu buôn cũng là cụ, bỏ tục nhuộm răng, vận Âu Phục bằng nội hoá thì người đầu tiên cũng lại là cụ” (Nguyễn Hiến Lê, Đông Kinh nghiã thục, Lá Bối, Sàigòn, 1968, trang 85)

Đông kinh nghiã thục

Số 4, Hàng Đào, cửa hiệu của bà Lương Văn Can, trên gác, là nơi hội họp của các nhà cách mạng Lương Văn Can, Tăng Bạt Hổ và các sĩ phu Bắc hà, năm 1906. Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, trước khi hành sự đều qua luận bàn với nhóm Lương Văn Can. Một “tài liệu học tập” viết năm 1904, không đề tên tác giả, tựa đề “Văn Minh tân học sách” được phổ biến, và năm 1907, Đông Kinh nghiã thục in lại. Tài liệu, sau này sẽ được xác nhận là của Ngô Đức Kế, lý thuyết gia của hai phong trào, người đã dành 5 năm nghiên cứu tư tưởng Tây Phương qua Tân thư. Trường Đông Kinh nghiã thục cũng sẽ được mở ở điạ chỉ này.

Đông kinh nghiã thục: Đông kinh là tên kinh đô Thăng Long thời nhà Hồ. Nghiã thục là dạy không tốn tiền. Vậy chọn tên Đông Kinh là đã ngụ ý theo sự duy tân đất nước của Hồ Quý Ly và theo cả “cách mạng” Hồ Quý Ly nữa chăng? Nếu đúng như vậy, thì Đông Kinh nghiã thục, từ nguồn gốc, đã chủ trương cả hai con đường: cách mạng bạo động và cách mạng văn hoá, tổng hợp hai cách cứu nước khác nhau của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Nguyễn Hiến Lê viết: “Sự thực là có một sự phân công giữa các nhà Nho thời đó và hai phái Duy tân và Bạo động nhắm chung một đích, bổ túc lẫn nhau. Các cụ hẹn với nhau cứ sáu tháng lại khai hội một lần” (Đông Kinh nghiã thục, trang 43)

Mục đích: mở các lớp dạy miễn phí và tổ chức các cuộc diễn thuyết. Tiểu học: Việt văn. Trung và Đại học thêm Hán và Pháp văn. Bỏ lối học từ chương khoa cử mà chú trọng vào thường thức và thực nghiệp. Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn đảm nhiệm việc xin giấy phép mở trường. Lương Văn Can, hiệu trưởng. Nguyễn Quyền, giám học.
Tháng 3/1907, mở hai lớp đầu tiên. Tháng 5/1907, chính thức được giấy phép. Số học sinh tăng gia gấp bội, theo Đào Trinh Nhất có khoảng hơn ngàn người, Nguyễn Hiến Lê cho có lẽ ít hơn. Học trò khắp nơi đến học, Quảng Nam có Phan Khôi, Nguyễn Bá Trác…

Đường lối của Đông Kinh nghiã thục: “cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do” (Văn minh tân học sách). Do đề nghị của Nguyễn Văn Vĩnh, trường lập sân thể dục.
Giáo sư Hán Văn: cụ Kép làng Hương Canh, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Quyền, Lương Trúc Đàm… Việt Văn, Pháp văn và Toán: Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Trần Đình Đức, Bùi Đình Tá, Phạm Đình Đối…
Trường có ban tu thư để soạn sách và dịch sách lấy. Có máy in. Các sách của trường in ra không còn dấu vết, nhưng những bài ca ái quốc còn truyền tụng lại. Hồi trường mới mở, cuốn Hải Ngoại huyết thư của Phan Bội Châu đã lưu hành khắp nước.

Đông Kinh Nghiã Thục phát động phong trào yêu nước, phổ biến các bài ca yêu nước như Thiết Tiền Ca của thầy đồ Tây Tựu, và qua các buổi diễn thuyết. “Các giáo sư như Dương Bá Trạc, Nguyễn Quyền, Nguyễn Văn Vĩnh thay phiên nhau đăng đàn, nhưng nhà hùng biện nhất vẫn là cụ Tây Hồ. Mỗi lần ở Quảng Nam ra thì cụ đều lại Nghiã thục để diễn thuyết” (NHL, trang 79) Tất nhiên chính quyền thuôc điạ phải đàn áp: Đầu năm 1908, (tháng chạp năm Đinh Mùi) Nghiã thục bị thu giấp phép. Trường hoạt động chưa được một năm, nhưng ảnh hưởng của Đông Kinh nghiã thục vô cùng quan trọng trong thế kỷ XX: Đó là cái nôi đầu tiên xây dựng nền Việt học, mà sau này những cựu học sinh của trường trong đó có Phan Khôi sẽ làm sáng tỏ con đường.

Trung Kỳ dân biến

Tháng 4/1908, khởi phát phong trào Trung Kỳ dân biến, dân chúng nổi dậy chống sưu thuế. Sự đàn áp khốc liệt. Phan Châu Trinh bị bắt ở Hà Nội, giải về Huế. Vì đám quan lại, đã có thù sẵn, ông bị kết án tử hình. Hội Nhân Quyền can thiệp, đổi thành án đầy Côn Đảo. Năm 1911, Hội Nhân quyền can thiệp lần nữa, ông được đưa về quản thúc tại Mỹ Tho. Phan Châu Trinh phản đối, đòi: hoặc đưa về Côn Lôn hoặc cho sang Pháp. Chính phủ bảo hộ chấp nhận cho sang Pháp. Tháng 4/1911, ông và con trai 12 tuổi là Phan Châu Dật được sang Pháp. Với trợ cấp hàng tháng 450 francs. Sống rất chật vật. Phan ở một hôtel xoàng và gửi con trọ học ở tỉnh nhỏ.
Tại Paris, Phan viết Trung Kỳ dân biến thỷ mạt ký điều trần với chính phủ Pháp nỗi đau khổ của người dân, vì sưu cao thuế nặng mà phải nổi lên chống thuế, rồi bị đàn áp dã man, mong chính quyền thuộc địa thay đổi chính sách.

Gặp Phan Văn Trường năm 1912, trong khuôn khổ hoạt động của hội Đồng Bào thân Ái, trở thành bạn đồng hành trong suốt thời gian còn lại của cuộc đời. 1914-1915, bị bắt, bị giam trong ngục Santé 11 tháng, cùng thời gian với Phan Văn Trường vì tội “Âm Mưu chống chính quyền Pháp”. Ra tù, Pháp cắt tiền viện trợ hàng tháng, với hy vọng: không biết tiếng Pháp, không có nghề, bắt buộc ông phải về nước. Nhưng Phan học nghề rửa và sửa ảnh và sống tự túc được. Ở Paris và Pons. Tiếp tục hoạt động trong Hội Người An Nam yêu nước.
Phan Châu Trinh cùng với Phan Văn Trường là hai con chim đầu đàn của nhóm Ngũ Long. Phan thường lên Bộ thuộc điạ, đưa những thỉnh nguyện mỗi khi có vấn đề liên quan đến Việt Nam.

Mặt trận chống Pháp tại Pháp- nhóm Ngũ Long

Từ 1912 trở đi, một mặt trận chống Pháp thứ ba hình thành ở Pháp và tiếp tục ở Nam Kỳ: Trực tiếp đòi thực hiện dân chủ và nhân quyền tại Việt nam, trên báo chí tiếng Pháp, tại Paris và tại Sàigòn, do các nhà cách mạng Tây học lãnh đạo, mặt trận này có thể chia làm ba thời kỳ:
– Phan Văn Trường (1878- 1933) sáng lập hội Đồng Bào Thân Ái (1912-1916). Gặp và cộng tác với Phan Châu Trinh. Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh bị bắt (1914-1915) bị tù 11 tháng. Hội Đồng bào Thân ái phải giải tán.
– Hội Người An Nam Yêu Nước ra đời (khoảng 1916). Một bút hiệu mới xuất hiện: Nguyễn Ái Quấc, tên chung của Nhóm Ngũ Long (Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Tất Thành). Ngòi bút Nguyễn Ái Quấc hoạt động mạnh từ giữa năm 1919 đến 1923, trên các báo tại Paris, đặc biệt trên tờ Le Paria từ 1922 đến 1925.
– Mùa thu 1922, Nguyễn An Ninh về nước. Cuối năm 1923 ra tờ La Cloche Félée (Chuông Rè), tại Sàigòn. Tháng 6/1923, Nguyễn Tất Thành đi Nga không trở lại. 1924 và 1925, Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh về nước. Nguyễn Thế Truyền ở lại Paris, tiếp tục hoạt động trong tờ Le Paria. 1926, Truyền ra tờ Việt Nam Hồn (tiếng Việt). 1927, Truyền lập đảng Việt Nam Độc Lập. Cuối năm 1927, Nguyễn Thế Truyền về nước , trao đuốc lại cho nhóm Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường (cả ba là môn đệ của Nguyễn An Ninh) tiếp tục tranh đấu… sau hình thành nhóm Tả Đối lập (Trốt kít), mở ra một thời kỳ mới, chống Pháp trên đất Pháp và tại Việt nam tới 1945.
Nguyễn An Ninh và Nhóm Trốt kít tiêu biểu cho những trí thức trẻ, phần lớn người Nam, miền đất “của Pháp”, xuất thân trường Pháp, xuất sắc về học, thâm hiểu văn hóa Tây phương, viết và nói tiếng Pháp thành thạo, không có mặc cảm trước người da trắng, tạo cho cuộc đấu tranh chống Pháp thời kỳ thứ ba một sinh lực mới, vượt nội địa, mà những người làm cách mạng gốc nho học, ở Trung và Bắc không thể làm được.
Cha đẻ của phong trào này là nhà cách mạng Phan Văn Trường.

Phan Văn Trường (1878- 1933)

Phan Văn Trường là nhà trí thức có công xây dựng nền móng đầu tiên của phong trào Việt kiều yêu nước tại Pháp. Nhưng công lao của ông hầu như ít ai biết đến. Ông lại mất từ năm 1933, cho nên sau này, mọi việc ông làm được gán cho Hồ Chí Minh, mà hầu như không có ai phản biện.
Phan Văn Trường sinh năm 1878 tại làng Đông Ngạc, tỉnh Hà Đông. Học trường dòng, rồi trường thông ngôn. Làm thông ngôn cho Toà Sứ. 1908, đậu ngạch tham tá, biệt phái sang Paris làm giáo sư phụ giảng tiếng Việt (Répétiteur d’Annamite) tại trường Ngôn ngữ Đông phương (Ecole des Langues Orientales) và học Luật. 1912, xong cử nhân, ông ghi tên vào luật sư đoàn, tập sự tại toà Thượng Thẩm Paris.
1912, ông lập hội Đồng bào Thân ái, cơ sở đầu tiên của người Việt yêu nước tại Paris.
Chính phủ thuộc địa trả đũa, đầu tháng 1/1913, hủy khế ước dạy học của ông.

Từ tháng 4/1913, Quang Phục Hội tổ chức các cuộc bạo động ở Bắc và Trung. Ngày 26/4/ 1913, nhân có vụ ném bom một quán cà phê (hay khách sạn) ở Hà Nội, hai sỹ quan Pháp bị chết [bạo động do Nguyễn Khắc Cần và Hán Minh thực hiện], chính quyền bảo hộ bắt anh của Phan Văn Trường là Phan Tuấn Phong (trí thức nho học) và em trai ông là Phan Trường Khiêm, lấy cớ tìm được ở nhà ông Khiêm những thư từ liên lạc với ông Trường, đầy cả hai sang Nouvelle-Calédonie.

Tháng 10/1913, chính quyền thực dân dựng chuyện Kỳ Ngoại Hầu Cường Để gửi thư (thật hay giả?) cho Phan Châu Trinh nhờ Phan Văn Trường dịch sang tiếng Pháp, để sau có cớ dựa vào, buộc hai người vào tội “âm mưu chống Pháp”. Mật thám Nguyễn Như Chuyên trà trộn vào làm thân với Phan Châu Trinh và báo cáo (láo) những hoạt động “chống phá nhà nước Pháp” của Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh.

Ngày 13/3/1914, trong khuôn khổ Hội thảo về vấn đề Đông Dương của trường Cao Đẳng Xã Hội (Ecole des Hautes Études Sociales), được mời phát biểu, Phan Văn Trường chọn đề tài: Les revendications indigènes (Những thỉnh nguyện của người bản xứ). Albert Sarraut lo ngại, can thiệp với Bộ Thuộc Địa, không cho Phan Văn Trường diễn thuyết nhưng không thành. Bài diễn văn không nhắm trực tiếp vào những đòi hỏi độc lập dân chủ, vì ông biết đòi lúc này vô ích, ông phê bình đến nguồn cội của chính sách thực dân kiểu Âu châu, thời La Mã, rồi so sánh và đối chất với hệ thống đô hộ kiểu Tàu, là nguồn cội phát xuất đế quốc An Nam. (Hồi ký PVT, trang 112). Bài nói chuyện làm cho thực dân lo ngại.
Thế chiến bùng nổ. Cuối tháng 7/1914, có lệnh tổng động viên, Phan Văn Trường bị gọi đi lính. Đang đóng ở Chartres, ông bị gọi về Paris, giam trong binh ngục Cherche-Midi (12/9/1914). Phan Châu Trinh cũng bị bắt bị giam cùng thời điểm đó tại ngục Santé.
Theo mật báo của Pháp thì Hội Đồng bào Thân ái bị giải tán năm 1916 (Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, Đông Nam Á, 1983, trang 43).
Bộ Thuộc địa phái Nguyễn Như Chuyên vào ngục sống cùng Phan Văn Trường để theo dõi và dụ Phan Văn Trường xin ân xá. Ông không chấp thuận.

Tháng 7/1915, vì không hội đủ bằng chứng và do sự bênh vực của Hội Nhân Quyền và của luật sư Marius Moutet, bạn đồng nghiệp của Phan Văn Trường tại toà Thượng thẩm, toà tuyên miễn tố. Phan Văn Trường được gửi về Công binh xưởng Toulouse, làm thông ngôn cho lính thợ. Tại đây ông lại bị quy tội “chủ mưu xui giục” công binh Việt Nam viết đơn xin giải ngũ (trong thế chiến, số thợ và lính từ Việt Nam sang Pháp lên đến khoảng 10000 người).
Từ 1916 đến 1919, Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền cùng ở Toulouse. Có nhiều dấu hiệu cho thấy họ đã thành lập hội Người An Nam Yêu nước trong thời gian này.

Tháng 4/1919, được giải ngũ, ông trở lại ở Paris. Luôn luôn bị mật thám theo dõi. Từ thời điểm này địa chỉ số 6 Villa des Gobelins, Quận 13, Paris, nhà Phan Văn Trường, được mật thám coi là trụ sở của Hội Người An Nam Yêu Nước. Nhóm Ngũ Long hoạt động mạnh và bút hiệuNguyễn Ái Quấc được mật thám chú ý.
Tháng 6/1919 ông viết văn bản nổi tiếng Les revendications du peuple annamite (Bản thỉnh nguyện thư của dân tộc An Nam), ký tên Nguyễn Ái Quấc, do Nguyễn Tất Thành đem đến Hội nghị Hoà bình ở Versailles.

Bản kiến nghị không được Hội nghị Hoà Bình lưu ý, nhưng sẽ được ghi lại như văn bản đầu tiên đòi tự do dân chủ của người Việt gửi đến chính phủ Pháp và Đồng Minh sau thế chiến thứ nhất.
Từ 1921 đến tháng 5/1922 Phan Văn Trường sang Rhénanie, vùng đất Đức thuộc Pháp từ 1793 đến 1914, biện hộ tại toà án binh Mayence. Ngày 3/6/1922, ông trình luận án tiến sĩ, đề tàiEssai sur le Code Gia Long (Khảo luận về Luật Gia Long).

Phan Văn Trường rời Pháp ngày 22/12/1923, đến Sàigòn ngày 21/1/1924. Ra Bắc thăm gia đình, rồi trở vào Sàigòn, mở văn phòng chung với luật sư Monin. Diễn thuyết và viết báo. Cộng tác với Nguyễn An Ninh làm báo la Cloche Fêlée- Chuông rè (Chuông nứt) trực tiếp chống chính quyền thuộc địa. Họp nhau viết nhiều bài chỉ trích chính quyền Pháp, nhưng Ninh để cho Trường ký, vì Trường có quốc tịch Pháp, Pháp không dám thẳng tay trừng trị như Ninh (Phương Lan-Bùi Thế Mỹ, Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh 1899-1943, Thúy Phương, Sàigòn 1970, trang 153). Ngày 26/11/1925, Phan Văn Trường thay Dejean (Jean de la Bâtie) làm giám đốc tờ Chuông Nứt, trước kia báo ra hàng tuần, bây giờ mỗi tuần hai lần. Với các bài viết và các buổi diễn thuyết, nhóm Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm… khuynh đảo tình hình chính trị tại Nam Kỳ.
Vì vụ tổ chức mít-tinh ở Vườn Xoài, Ninh bị bắt ngày 20/3/1926. Phan Văn Trường tiếp tục Chuông rè, mở rộng với nhóm Đệ tứ và đổi thành L’Annam từ 1/5/1926. L’Annam ra tới tháng 2/1928, phải đình bản, vì, Phan Văn Trường bị toà Tiểu hình Sàigòn kết án 2 năm tù ngày 27/3/1928 (Ngô Văn, Việt nam 1920-1945, L’Insomniaque, 2000, trang 64-65).
Vì những “tội” sau đây:
– Báo An Nam năm 1926, đăng bản kêu gọi Hội Quốc Liên của báo Việt Nam Hồn và đảng Phục Việt (báo và đảng của Nguyễn Thế Truyền ở Pháp), đòi quyền độc lập cho Việt Nam.
– Đăng một bài trích báo L’Humanité Paris, xúi giục quân lính Việt Nam ở Trung Hoa bất tuân lệnh.
– Cổ động dân chúng làm lễ truy điệu Lương Văn Can.
Toà Thượng Thẩm y án. Phan Văn Trường chống lên toà Phá Án Paris và sang Pháp để tự biện hộ. Toà Phá Án y án. Phan Văn Trường vào tù tháng 6/1929. Luật sư Marius Moutet, dân biểu đảng Xã Hội, vận động ân xá. Phan Văn Trường được trả tự do tháng 2/1930. Ông về nước, mở phòng cố vấn pháp luật tại Sàigòn. 1933 ông ra Bắc thăm gia đình và mất tại Hà Nội ngày 22/4/1933 vì bệnh đau gan. (Theo Đặng Hữu Thụ, Thân thế và sự nghiệp nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền, tác giả xuất bản, Melun, Pháp, 1993, trang 35-36)

Phan Văn Trường để lại cuốn hồi ký tựa đề Une histoire de conspirateurs annamites à Paris ou la vérité sur L’indochine [Câu chuyện những người An Nam âm mưu (chống Pháp) tại Paris hay Sự thật về Đông dương] đăng từng kỳ trên báo La Cloche Fêlée (Chuông rè) từ 30/11/1925 đến 15/3/1926. 1928, nxb Gia Định (Sàigòn) in thành sách và L’Insomniaque, Paris, tái bản 2003.
Nội dung tác phẩm vạch rõ âm mưu thâm độc của chính quyền thực dân, trong cái án gọi là “âm mưu chống Pháp” gán cho Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh, khiến cả hai bị tù 11 tháng, và cho biết rõ hoạt động của Phan Văn Trường tại Pháp. Ngoài ra còn bộc lộ mối tương quan giữa Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh, thấy đường hướng tranh đấu của Phan Văn Trường khác với Phan Châu Trinh: Ngòi bút Phan Châu Trinh chủ yếu đả kích bọn quan lại và triều đình Việt Nam, còn đối với Pháp, ông tin tưởng chính quyền thuộc địa sẽ thay đổi chính sách để giúp VN lấy lại chủ quyền.
Phan Văn Trường tuy kính trọng và khâm phục Phan Châu Trinh, nhưng cho rằng ông quá ngây thơ, quá tin vào chính quyền thuộc địa và cứ tiếp tục đến bộ thuộc địa một cách vô ích.
Bằng ngòi bút và bằng diễn thuyết, Phan Văn Trường đả kích trực tiếp những nhân vật chủ chốt của chính sách thuộc địa như Bộ Trưởng, Toàn Quyền, và toàn bộ hệ thống cai trị thuộc điạ. Ông đào sâu đến chính sách thuộc địa Âu Châu thời La Mã, so sánh với chính sách thuộc địa Á Châu của Trung hoa. Ông tỏ phong thái kiêu hãnh về nền văn minh Đông Phương lâu đời đối diện với một nền văn minh Tây Phương non trẻ. Phan Văn Trường phân biệt rõ dân tộc Pháp mà ông quý mến và kéo làm đồng minh để chống lại bọn dã man giết người là chính quyền thuộc địa. Ông đánh vào lòng tự hào của dân tộc Pháp để họ phải bãi bỏ chính sách thuộc địa dã man không xứng đáng với lịch sử của họ. Phan Văn Trường đối với chính quyền thực dân nguy hiểm hơn Phan Châu Trinh, bởi ông là người có thế lực, được trí thức Pháp biết tiếng. Ông có quốc tịch Pháp và là luật sư, ông hành động công khai theo đúng luật pháp. Khi bắt bẻ Bộ trưởng, hoặc Toàn quyền, ông sử dụng các điều luật trong ngành tư pháp để gọi tội của từng người.

Nguyễn Thế Truyền (1898-1969)

Nguyễn Thế Truyền là khuôn mặt thứ nhì sau Phan Văn Trường trong nhóm Ngũ Long. Nhờ cuốn Thân thế và sự nghiệp nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền của Đặng Hữu Thụ, chúng ta có thể biết rõ về Nguyễn Thế Truyền.
Nguyễn Thế Truyền sinh ngày 17/12/1898 tại làng Hành Thiện, tỉnh Nam Định trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng. Cha là Nguyễn Duy Nhạc. Ông là Nguyễn Duy Hàn, tuần phủ Thái Bình, bị hạ sát ngày 12/4/1913, vì bom của Phan Văn Tráng, trong Quang Phục Hội (Phan Bội Châu). Năm 1910, Truyền 12 tuổi, được phó công sứ Thái Bình Dupuy đem về Pháp du học. Vào nội trú trường Parangon (Joinville le Pont, ngoại ô Paris) trực thuộc Alliances françaises do André Salles, cựu thanh tra thuộc địa làm giám đốc. Theo Phan Văn Trường, trường Parangon có mục đích đào tạo những trẻ em thuộc địa để trở thành những “công dân tốt” trung thành với mẫu quốc. Là học sinh xuất sắc, Nguyễn Thế Truyền liên tiếp được học bổng của Alliances françaises từ 1913 đến 1922. Năm 1915, đậu Brevet Supérieur, về nước một năm, học thêm Hán văn, rồi trở lại Pháp học tiếp kỹ sư hóa học (1916-1920) ở Toulouse. 1920, tốt nghiệp, về nước một năm, học tiếp Hán văn. Tháng 8/1921 trở lại Paris, sửa soạn luận án tiến sĩ, học thêm triết (đậu cử nhân triết năm 1922).

Khi mới trở lại Paris, Nguyễn Thế Truyền ở số 3 Champollion, Paris 5. Đầu năm 1922, đến ở nhà Phan Văn Trường, số 6 villa des Gobelins. (Lúc này Phan Văn Trường đi Đức, biện hộ tại toà án binh Mayence từ giữa 1921 đến tháng 5/1922). Khi Phan Văn Trường về Pháp, thì Nguyễn Thế Truyền mướn nhà số 6 Saint Louis en l’Ile, Paris. Kết duyên với cô La Tour, làm y tá, sống chung từ cuối 1922, có bốn con.
Sự tham gia của Nguyễn Thế Truyền vào nhóm Ngũ Long là tất yếu, và ông sẽ là một con Rồng Lớn trong nhóm Ngũ Long. Khuynh đảo chính sách thực dân bằng ngòi bút. Truyền trở thành nhà cách mạng thần tượng gốc Bắc (Nguyễn An Ninh gốc Nam), người đã tích cực thành lập hệ thống báo chí chống Pháp trên đất Pháp, từ giữa năm 1919 đến 1927, đặc biệt trên tờ Le Paria, ông làm chủ bút năm 1925, rồi tờ Việt Nam Hồn do ông sáng lập năm 1926. Trong khi đó, cuối năm 1922, Ninh về nước, lập báo La Cloche Fêlée, mở mặt trận song song chống Pháp tại Sàigòn.

Trong suốt thời gian học và hoạt động ở Pháp (1910-1927), Nguyễn Thế Truyền về nước hai lần (1915 và 1920), mỗi lần ở khoảng một năm, và học chữ Hán trong thời gian này. Tóm lại trong 15 năm ở Pháp, Truyền đã làm cho chính quyền thuộc địa phải đảo điên vì “cậu nghiã tử”.
Vậy việc dạy tiếng Pháp cho Thành có lẽ là Truyền và Ninh, nhiều hơn Trường. Bởi Phan Văn Trường không phải là người dễ tính. Đến Phan Châu Trinh khi cần thông ngôn, ông cũng chỉ dịch giúp những buổi phỏng vấn quan trọng, còn để cho sinh viên hoặc người khác làm.

Nguyễn Thế Truyền vào đảng Xã hội, rồi đảng Cộng sản (khoảng 1922 khi viết cho Le Paria). Năm 1925, làm Phó Tổng thư ký hội Liên hiệp thuộc địa (Union intercoloniale) và chủ bút tờ Le Paria (Người cùng khổ). 1926, rời báo Le Paria, làm báo Việt Nam Hồn. 5/1927, ông tách khỏi bộ phận thuộc địa của đảng Cộng sản Pháp và lập đảng An Nam độc lập (Ngô Văn, sđd, trang 43).
Báo Việt Nam Hồn ra công khai từ số 1 (1/1926) đến số 8 (8/1926) thì bị Sarraut, lúc đó là tổng trưởng Nội Vụ, ra lệnh cấm. Vẫn lén lút ra. Sau đổi là Hồn Việt Nam (được bốn số) rồi Việt Namtừ tháng 9/1927. Việt Nam Hồn bị cấm, Truyền ra công khai tờ Phục Quốc.
Hai tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) và Việt Nam Hồn mà Nguyễn Thế Truyền là linh hồn, đã có ảnh hưởng sâu xa đến cách mạng Việt Nam.
Ngày 7/12/1927 Nguyễn Thế Truyền và gia đình, cùng Nguyễn An Ninh lên tàu Chantilly, về nước. Nguyễn Văn Luận thay Nguyễn Thế Truyền quán xuyến mọi việc. 1934, Truyền sang Pháp trở lại, hoạt động đến 1937, về nước. Năm 1941, bị Pháp bắt cùng với em trai ở Nam Định, bị đầy đi Madagascar đến 1946. Nguyễn Thế Truyền mất ngày 19/9/1969 tại Sàigòn.

Chương 1b : Ai viết những bài ký tên Nguyễn Ái Quấc tại Pháp từ 1919 đến 1923?

Hai gia đình cách mạng đã có công lớn đối với đất nước trong thế kỷ XX, là gia đình cụ Lương Văn Can ở Bắc và cụ Nguyễn An Khương trong Nam. Không những hai cụ là những nhà nho lãnh đạo phong trào Duy Tân và Đông Du ở Bắc và Nam, mà còn là thân phụ của hai người anh hùng hiện đại: Lương Ngọc Quyến và Nguyễn An Ninh, tiêu biểu cho hai khuynh hướng cách mạng: bạo động của Phan Bội Châu và bất bạo động của Phan Châu Trinh.

Nguyễn An Ninh (1900-1943)

Nguyễn An Ninh sinh ngày 5/9/1900 tại Chợ lớn. Là con và cháu của hai nhà cách mạng: Cha là Nguyễn An Khương,chú là Nguyễn An Cư, và cô ruột, đều là những nhà cách mạng. Nguyễn An Khương, đại diện Đông Kinh Nghiã Thục, lập khách sạn Chiêu Nam lầu để tài trợ cho phong trào Duy tân và Đông du. Dịch sách chữ Hán sang tiếng Việt. Viết bài trên Nông Cổ Mím-Đàm kêu gọi lòng yêu nước. Nguyễn An Cư, là nhà văn, nhà nho uyên thâm, thày thuốc Nam nổi tiếng. Gia đình gốc ở Quán Tre, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (Sàigòn).

Nguyễn An Ninh tiếp nhận hai nền giáo dục từ nhỏ: Hán học, do cha và cô ruột dạy và Pháp văn: học trường Sở Cọp (ngang vườn bách thú), rồi trường dòng Taberd, và lycée Chasseloup Laubat. Làm báo tiếng Pháp rất sớm khi vừa xong bằng Brevet Élémentaire (Sơ học). Nổi tiếng bất khuất, chửi Tây, đánh Tây. Thủa nhỏ có tật nói cà lăm, nhưng tự luyện khỏi cà lăm. Khi ở Paris, ngày nghỉ thường ra ngoại ô, vào rừng luyện giọng hàng giờ, sau trở thành nhà diễn thuyết hùng hồn, lôi cuốn. Năm 1916, ra Hà Nội học trường thuốc, sáu tháng sau bỏ thuốc qua Luật. Không đầy một năm sau, Ninh về Sàigòn rồi sang Pháp học tiếp Luật. Đó là năm 1918 (theo Phương Lan-Bùi Thế Mỹ, Hồ Hữu Tường và Lê Văn Thử). “Ninh sang Pháp du học vào năm 1918, lúc Đức Quốc đã thua trận. Đến năm 1920, đã đoạt được bằng Cử Nhân Luật, vào lúc mới 20 tuổi” (Phương Lan- Bùi Thế Mỹ, trang 11)

Hoạt động trong Hội Người An Nam yêu nước và là một trong những cây bút ký tên Nguyễn Ái Quấc của nhóm Ngũ Long.
Về nước mùa thu năm 1922, sau khi đi Âu Châu (Anh và Ý), diễn thuyết nhiều lần tại Hội Khuyến Học Nam Kỳ, đả kích chính sách thực dân, phát huy tinh thần dân chủ, được thanh niên hưởng ứng.
Tháng 3/1923, Nguyễn An Ninh sang Pháp, ở lại nửa năm, dường như chuyến đi này để thuyết phục Phan Văn Trường về nước. Phan Văn Trường rời Pháp ngày 22/12/1923 và đến Sàigòn ngày 21/1/1924.
Đêm 15/10/1923, Nguyễn An Ninh diễn thuyết ở hội Khuyến học Sàigòn, bài Cao Vọng Thanh niên, có tiếng vang lớn, Thống đốc Nam Kỳ gọi Ninh lên cảnh cáo.

Ngày 10/12/1923, phát hành số 1, báo La Cloche fêlée (Chuông rè) do Nguyễn An Ninh sáng lập, Jean de la Bâtie (Lê Văn Thử ghi Dejean de la Bâtie), làm chủ nhiệm. Bâtie sẽ là thày dạy tiếng Pháp cho Phan Khôi. Việc Phan Khôi bị mật thám theo dõi phải lánh xuống Cà Mau ba năm trong khoảng thời gian này, chắc có liên quan tới báo Chuông rè.

La Cloche fêlée là cơ quan ngôn luận đầu tiên chống Pháp công khai và mãnh liệt tại Việt nam. Nguyễn An Ninh viết bài, lên trang, đưa in và tự mình đem báo đi bán. Báo viết tiếng Pháp, đánh thẳng vào các chính sách thực dân.
Đến số 19, ra ngày 14/7/1924, phải tạm ngưng (vì vụ Phạm Hồng Thái ném bom ở Sa Điện, Quảng Châu, giết hụt toàn quyền Merlin ngày 19/6/1924, và một số sự kiện khác, theo Ngô Văn, sđd, trang 50). Theo Lê Văn Thử, phải tạm ngưng vì Thống đốc Cognacq tìm cách đóng cửa tờ báo nhưng không được, bèn sai lính kín hăm dọa chủ nhà in (Lê Văn Thử, Hội Kín Nguyễn An Ninh, Nam Việt, 1949, trang 24).

La Cloche fêlée phải tạm ngưng, Nguyễn An Ninh lại sang Pháp, gặp Nguyễn Thế Truyền đang phụ trách tờ Le Paria và Hội Liên hiệp Thuộc địa. Ninh ở Pháp gần một năm và lần này đón Phan Châu Trinh về nước. Ngô Văn viết:
“Trước khi lên đường ba hôm, Ninh và Trinh tham dự cuộc mít tinh tập hợp hơn 800 người Pháp và Đông Dương tại Khách sạn Hội Bác Học (Hôtel des Sociétes savantes): kết cuộc mít tinh quyết nghị như sau:
“Những người Pháp và Đông Dương tập hợp ngày 25/5/1925 hồi 21 giờ, do ông Phan Châu Trinh chủ toạ, sau khi nghe các bản tường trình của các ông Nguyễn An Ninh, Diệp Văn Kỳ và Dương Văn Giáo về tình hình chung ở Đông Dương, đã thông qua nghị quyết sau đây để gửi tới chính phủ cộng hoà…” (Ngô Văn, trang 50, trích theo Georges Garos, Forceries humaines, Paris 1926, trang 179). Nội dung bản quyết nghị tương tự như bản Thỉnh nguyện thư 1919 của Phan Văn Trường, thêm vài điều khoản mới, nên chúng tôi không chép lại ở đây.

Ngày 18/5/1925, Phan Châu Trinh và Nguyễn An Ninh lên đường xuống Marseille.
“Phan Châu Trinh đã xuống tàu hôm 28/5/1925 về Sàigòn. (…) Cùng chuyến tàu có tên phiến loạn chống Pháp là Nguyễn An Ninh cùng về. Cũng có quyển France en Indochine [tác phẩm của Nguyễn An Ninh] chống Pháp một cách đáng ghét đã được đem về trong chuyến này. Yêu cầu không được phổ biến quyển sách này. Xin làm mọi cách để ngăn cấm.” (Điện tín ký tên André Hesse – do tổng giám đốc cơ quan An Ninh gửi từ Paris sang Hà Nội (Thu Trang, trang 231-232).

Tờ Chuông rè im lặng được 20 tháng, khi Phan Bội Châu bị bắt đưa về Hà Nội, ra toà ngày 23/11/1925 về tội “phiến loạn”, Nguyễn An Ninh tung trở lại tờ Chuông rè ngày 25/11/1925, phát động chiến dịch bảo vệ Phan Bội Châu (cùng với Đông Pháp Thời Báo) và bên Pháp Nguyễn Thế Truyền lập tức vận động Hội Liên hiệp Thuộc địa; tổ chức mít tinh lớn tại Hội trường Hội Bác Học ngày 9/10/1925; ứng khẩu diễn thuyết hùng hồn cảm động và viết trọn hai số Le Paria 36 và 37 về Phan Bội Châu. (ĐHT, trang 56-57).
Toàn quyền Varenne phải thả Phan Bội Châu ngày 24/12/1925, đưa về an trí ở Huế.
Đầu năm 1927, Ninh sang Pháp và lần này đón Nguyễn Thế Truyền về nước.

Nguyễn An Ninh: Năm lần bị bắt và bị cầm tù

1- Lần thứ nhất: 20/3/1926, bị bắt, bị kết án 18 tháng tù, vì tội phá rối trị an, viết báo Chuông rèvà truyền đơn xúi dân làm loạn, tổ chức mít tinh tại Xóm Lách, Vườn Xoài (tổ chức chứ không tham dự, vì bị bắt từ hôm trước), ở nhà bà Đốc Phủ Tài, dì ruột của Ninh, đưa ra bản quyết nghị có ba ngàn người biểu quyết, đòi tám điểm, tương tự như Bản Thỉnh Nguyện của Phan Văn Trường tại Hội nghị Hoà bình Versailles năm 1919.
Phan Châu Trinh mất ngày 24/3/1926. Tổ chức đám tang Phan Châu Trinh do Ninh và Phan Khôi đảm trách, nhưng Ninh bị bắt ba ngày trước đó (chúng tôi sẽ nói rõ hơn trong phần thứ nhì, viết về Phan Khôi).
Ngày 7/1/1927, được ân xá, Ninh xin sang Pháp, liên lạc các nhóm đấu tranh ở Pháp và mời Nguyễn Thế Truyền về nước (Phương Lan- Bùi Thế Mỹ, trang 177). Ngày 7/12/1927 Nguyễn Thế Truyền và gia đình, cùng Nguyễn An Ninh lên tàu Chantilly, từ Marseille về Sàigòn.

2- Lần thứ nhì: tháng 9/1928, bị kết án ba năm tù vì tội lập Hội Kín Nguyễn An Ninh, dính líu gần 500 người bị bắt vì tội “đảng viên”. Phan văn Hùm cũng bị tù, được thả, viết cuốn sách nổi tiếng Ngồi tù khám lớn. Đến cuối năm 1930, Ninh được thả.

3- Lần thứ ba: 4/1936, bị bắt về tội viết báo La lutte (Tranh đấu) (quy tụ nhóm: Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Lê Văn Thử, Phan Văn Hùm) phá rối trị an, bị kết án 18 tháng tù, cùng với Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Tạo. Tuyệt thực. Tháng 11/1936 được thả.

4- Lần thứ tư: 7/37 bị bắt trở lại, kết án 5 năm tù ở, 5 năm biệt xứ, về tội tổ chức biểu tình ở quận Càn Long “xúi giục dân chúng nổi loạn”. Tháng 1/1939 được ân xá.

5- Lần thứ năm: Ngày 5/10/1939, đệ nhị thế chiến bùng nổ, bị bắt cùng với nhiều nhà chính trị khác đủ các khuynh hướng. Ninh bị kết tội phá rối trị an bằng cách hành động trong những cơ quan bí mật, tiếp xúc và xúi giục nông dân, thợ thuyền nổi lên chống chính phủ Pháp. Bị kết án:5 năm tù. 10 năm biệt xứ và mất quyền công dân. Lần này, không thoát khỏi tử thần, nhà cách mạng Nguyễn An Ninh mất tại Côn Đảo ngày 14/8/1943, ở tuổi 43. (Theo Phương Lan-Bùi Thế Mỹ)

Bài diễn thuyết Cao vọng thanh niên tại hội Khuyến học Sàigòn, đêm 15/10/1923 đánh dấu sự thành công đầu tiên của Nguyễn An Ninh như một nhà trí thức ái quốc (23 tuổi) “mở màn cho cao trào cách mạng, mở mang dân trí, dân sinh, dân quyền, dân chủ cho nòi giống Việt” như Phương Lan Bùi Thế Mỹ nhận xét (Phương Lan Bùi Thế Mỹ, trang 12). Bài diễn văn này, và các bài viết trên La cloche fêlée của Nguyễn An Ninh đã ảnh hưởng sâu xa đến lớp trẻ như Hồ Hữu Tường, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu… Họ coi Ninh như thần tượng và noi gương Ninh làm cách mạng chống Pháp, lập đảng Trốt kít. Phan Khôi, dù lớn hơn Ninh 13 tuổi, cũng chịu ảnh hưởng của Ninh (sẽ chứng minh bằng văn bản) trong việc xây dựng một nền quốc học, thoát khỏi ảnh hưởng Khổng Mạnh, gần gụi với tinh thần khoa học Tây phương.

Tại Paris, Ninh vừa làm vừa học: viết bài khảo cứu về Đông Phương học cho các báo, hoặc làm người mẫu cho họa sĩ. Chơi thân với giới văn nghệ sĩ Pháp và nhóm Anarchiste (Vô chính phủ). Để tóc dài. Có lúc Nguyễn An Ninh và Phan Văn Hùm cạo trọc đầu. Khi về nước, viết báo, lên khung, in báo, mặc áo dài, tóc dài, đem báo rao bán trên đường Catinat. Nấu dầu cù là Nguyễn An Ninh đem bán khắp thôn quê kiếm sống và diễn thuyết, nói chuyện với quần chúng đói khổ về tình hình đất nước. Nguyễn An Ninh là khuôn mặt cách mạng độc đáo nhất trong thế kỷ XX.

Tại Paris, hoạt động tích cực trong hội Người An Nam Yêu Nước, trở thành một trong Ngũ long, diễn thuyết và viết báo chống thực dân Pháp. “Tụi Tây ít khi phục bằng cấp (…) Ninh viết français hay lắm, tụi nó lác mắt. Chừng đó mới chịu phục (…) Khởi đầu, Ninh viết trong tờ Le Libertaire [Người tự do tuyệt đối] là cơ quan anarchiste [Vô chính phủ]. Tây nó phục rồi, mới rủ Ninh đứng vào nhóm sáng lập tạp chí Europe (do J.R.Bloch làm giám đốc)… Vào tạp chí Europe, Ninh làm quen với Léon Werth. Sau Ninh rủ Léon Werth qua bên mình. Về Pháp, Léon Werth viết cuốn Cochinchine để ca tụng Ninh là người trí thức độc nhứt kể cả Tây lẫn Việt, mà Werth gặp được ở Nam Kỳ”. (Hồ Hữu Tường, 41 năm làm báo, Đông Nam Á, Paris, 1984, trang 13).
“Năm 1922, vào mùa thu, sau khi kết nạp, tìm tòi, học hỏi ở Ý và ở Anh, kết nạp đặng nhiều bạn đồng chí như lãnh tụ Ấn Độ Nerhu, Ninh đã trở về đất nước phổ biến chí hướng phong trào ái quốc, cách mạng với dân tộc. Cái tài quan trọng nhứt là tài diễn thuyết và viết. Ninh đem từ Âu Châu về một lối văn mới, lời ít mà nói nhiều, câu văn gọn không rườm rà dài dòng lê thê mà tối nghiã như lối nhà văn thâm nho.” (Phương Lan- Bùi Thế Mỹ, Nguyễn An Ninh, trang 41). Lối viết thẳng và bộc trực này, cũng sẽ là lối viết của Phan Khôi, nhất là trong những văn bản cuối cùng, lối lập luận và văn phong của Phan Khôi về đấu tranh giai cấp có nhiều điểm giống Nguyễn An Ninh. Ninh viết về Đạo Phật, về Nietzsche, dịch 5 chương đầu cuốn Contrat social (Dân ước) của Rousseau… Hành động quyết liệt nhưng tư tưởng trung dung, giao hoà Âu Á. Đó là Nguyễn An Ninh.

Nguyễn An Ninh tỏ lòng ngưỡng mộ đặc biệt Lương Ngọc Quyến, có lẽ cái chết bi tráng của Ngọc Quyến đã gây dấu ấn sâu đậm trong Ninh, khiến sau này Ninh cũng trở nên một nhà cách mạng can trường vào bậc nhất của thế hệ ông. Trong 43 năm sống, một phần ba đời vào tù ra khám, nhưng không hề nhụt chí, tiếp tục tranh đấu bằng ngòi bút cho đến chết.

Với cái nhìn rộng về tình hình thế giới, thâm hiểu cuộc cách mạng bất bạo động của dân Ấn Độ, Nguyễn An Ninh là khuôn mặt cách mạng hiện đại nhất của chúng ta. Một thần tượng trẻ trung, bụi đời, hóm hỉnh. Nhưng Nguyễn An Ninh còn là người anh cả nếu không muốn nói làcha đẻ của phong trào cách mạng thanh niên, chủ yếu nhóm Trốt-kít, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường, Huỳnh Văn Phương… những thanh niên học trường Tây, sử dụng ngôn ngữ Voltaire, dùng tinh thần cách mạng 1789 để chống thực dân Pháp tại Pháp và tại Nam Kỳ, trong suốt 25 năm, từ 1920 đến 1945.

Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh

Khác hẳn với các nhà cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật. Chỗ nào ông muốn viết (hoặc sai người viết), chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, là có chủ đích rõ ràng. Chủ đích đó không phục vụ sự thật, như Phan Bội Châu viết Ngục Trung Thư hay Tự Phán: thật như đếm, sai lầm của mình cũng viết, ý kiến nào do Nguyễn Thành hay Lương Khải Siêu nghĩ ra cũng nói rõ.
Hồ Chí Minh không ngần ngại nhận mình là tác giả những bài viết và những công trình không phải của ông. Đó là sự cách biệt sâu xa về nhân cách giữa hai nhà cách mạng. Lời Phan Khôi dặn con: “Khi con gái của Mác hỏi cha thích tính gì nhất? Mác đã trả lời: tính thật thà!” (Phan Thị Thái, Nhớ cha tôi học giả Phan Khôi, Kiến thức ngày nay, tháng 12/1996), là một chúc thư mà cũng là một lời cảnh cáo Hồ Chí Minh về toàn diện lịch sử mờ ám của ông.
Trong giới hạn của bài viết này, chúng tôi chỉ chú ý đến thời kỳ Nguyễn Tất Thành ở Pháp, từ 1919 đến1923. Thời gian này, ông tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và chính những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc đã xây dựng nên huyền thoại Hồ Chí Minh.

1- Nghi vấn thứ nhất: năm sinh?

Cuối lá thư viết tay ở Marseille ngày 15/9/1911, gửi cho Tổng thống Pháp, xin vào học trường Thuộc địa, có ghi sinh năm 1892 ở Vinh. Một mật báo ghi Nguyễn sinh ngày 24/1/1892. Một mật báo khác, ghi 15/1/1894. Trong hộ chiếu vào Nga năm 1923, theo Hồng Hà, ghi 15/1/1895. Còn ngày sinh chính thức 19/5/1890, có từ năm 1946, có thể lấy ngày thành lập Việt Minh. [Theo Nguyễn Thế Anh, L’itinéraire polytique de Ho Chi Minh, trong cuốn Ho Chi Minh, L’homme et son héritage, Đường Mới, Paris, 1990].
Những sử gia Pháp, như Hémery cho rằng: năm sinh chính thức 1890 (thay vì 1895 hay 1898), chỉ có mục đích phục vụ huyền thoại: 1890 tính đến 1945 là ngoại ngũ tuần, đáng được gọi bằng Bác. Năm Nguyễn Tất Thành từ Anh sang Pháp cũng thế, theo Hémery, Nguyễn Tất thành đến Pháp năm 1919. Nhưng lại chính thức chọn năm 1917, vì có những mốc lịch sử gắn liền: những cuộc binh biến trong quân đội Pháp và cuộc cách mạng tháng 10 của Nga. (Pierre Brocheux, Ho Chi Minh, Presses Sciences Po, 2000, trang15).

Tiểu sử chính thức Hồ Chí Minh, được rút từ những cuốn hồi ký do chính ông viết hoặc sai người viết: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch của Trần Dân Tiên, bản đầu tiên viết mùa xuân năm 1948 bằng chữ Hán, in ở Thượng Hải năm 1949. Dịch và in ở Hà Nội năm 1958. Cuốn thứ nhì: Vừa đi đường vừa kể chuyện của T. Lan, in năm 1963(T. Lan là một trong những bút hiệu của Hồ Chí Minh sau 1951, theo Bùi Tín, ông rút ngắn bí danh Trần Thái Lan của Nguyễn Thị Minh Khai khi hoạt động ở Hương Cảng và Quảng Đông). Cuốn thứ ba: Thời thanh niên của Bác Hồ, của Hồng Hà, nxb Thanh Niên, 1976. Cuốn của Trần Dân Tiên có một số đoạn tương đối thành thực. Cuốn của Hồng Hà, đầy đủ và logique hơn, nhưng có những đoạn bớt đi hoặc thêm vào, lộ liễu, cốt để nâng cao giá trị thần tượng.

Trong thời gian 1911-1923, cuộc đời Nguyễn Tất Thành, có thể đã diễn ra như sau :
Ngày 4/6/1911, Nguyễn Tất Thành rời Sàigòn trên tàu L’Amiral Latouche-Tréville, trọng tải 6000 tấn, chạy đường Sàigòn-Dunkerque, làm phụ bếp, lấy tên là Văn Ba. Tháng 9, tới Marseille, gửi thư cho Tổng Thống Pháp xin vào học trường Thuộc Địa. Rồi lại theo tàu về Le Havre. Làm việc nhà cho ông chủ tàu ở Sainte Adresse ngoại ô Le Havre, độ một tháng rồi lại tiếp tục lên tàu đi Phi Châu.

Từ 1912 tới mùa hè 1914, vẫn dùng tên Ba, làm bồi, phụ bếp, hoặc khuân vác trên những tàu xuyên Đại Tây Dương, chạy đường Le Havre – Londres – New York, hoặc Châu Phi – Châu Mỹ. Từ 1914-1919, bỏ việc bồi bếp trên tàu, sống tại Luân Đôn với tên Nguyễn Tất Thành, ở số 8 Tottenham Road. (Theo Hémery, trong thế chiến, Tất Thành tránh sang Pháp vì ngại có thể bị gọi đi quân dịch). Làm việc tại khách sạn Carlton, rửa bát, rồi phụ bếp. Học tiếng Anh và hình như buổi tối có học thêm Máy móc (Mécanique) và Điện. Trao đổi thư từ thường xuyên với Phan Châu Trinh, bằng Hán văn. Khoảng tháng 5-6/1919, sang Paris. Hoạt động trong Hội Người An Nam Yêu Nước.

Ngày 27/12/1920, khai mạc hội nghị Tours của đảng Xã hội (SFIO), xuất hiện công khai với tên Nguyễn Ái Quốc.
Ngày13/6/1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật đi Nga, tới Moscou ngày 30/6/1923.
Tháng 2/1925, Lý Thụy xuất hiện ở Quảng Đông -tình báo Trung Hoa nhận diện là Nguyễn Ái Quốc- Thành lập Việt nam Thanh niên Cách mệnh Đồng chí hội.

Nghi vấn thứ nhì: Trình độ học vấn

Theo năm sinh chính thức 1890, thì 1911, khi xuống tàu đi Pháp, Tất Thành 21 tuổi.
Từ điển Văn học và các tiểu sử chính thức đều ghi: thủa nhỏ học chữ Hán rồi chữ quốc ngữ, sau vào Quốc Học Huế. Đầu năm 1911, bỏ học, vào Phan Thiết dạy ở trường Dục Thanh [trường đầu tiên của phong trào Duy Tân], ít lâu sau vào Sàigon, rồi từ Sàigòn “xuất dương tìm đường cứu nước”.
Daniel Hémery viết: “Theo lời khai của của Đạt (anh cả của Thành) với Sở Mật thám năm 1920, thì Thành học trường bảo hộ (franco-indigène), dường như Đông Ba, đậu bằng Tiểu học (Certificat d’études primaires). Cả hai ghi tên vào trường Quốc học (…) nhưng Thành học dở dang, bỏ đi làm (khoảng 1909?), làm trợ giáo, lương 8 đồng một tháng, ở trường Dục Thanh tại Phan Thiết.”Daniel Hémery, Ho Chi Minh De L’Indochine au VietNam, Gallimard 1990, trang 32-33).
Hémery ghi rõ học trường Pháp-Việt và còn đậu cả bằng Certificat d’études primaires.
Nếu những chi tiết trên đây đúng, thì Nguyễn Tất Thành đi học đến năm 19 hoặc 21 tuổi, và nếu có cả Certificat d’études primaires tất phải biết tiếng Pháp.

Nhưng Trần Dân Tiên (Hồ Chí Minh) lại đưa ra những chứng cớ trái ngược, như sau: Ở trên tàu Latouche-Tréville “mỗi ngày anh Ba phải làm từ 4 giờ sáng”, “công việc kéo dài suốt ngày”, “suốt ngày anh Ba đẫm nước, hơi và mồ hôi, mình đầy bụi than”, buổi tối có hai người lính giải ngũ, về Pháp, tốt bụng, “dạy cho anh đọc và viết” (TDT, trang 15-16-17)
Khi làm vườn cho ông chủ tàu ở Sainte Adresse, thì “anh học tiếng Pháp với cô sen” (TDT, trang 20).
Không có lý gì mà Hồ Chí Minh viết sai về chuyện này, nhất là ông lập lại việc khi đến Pháp ông không thạo tiếng Pháp, không viết được tiếng Pháp, phải nhờ Phan Văn Trường viết hộ.
Vậy vần đề học vấn của Nguyễn Tất Thành, phần chữ Hán là chắc chắn, vì cha là Phó bảng Nguyễn Sinh Huy, bạn học của Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh… Còn việc học ở các trường Đông Ba, Quốc học, dường như không lấy gì làm chắc lắm.

Nghi vấn thứ ba: Nguyễn Tất thành đến Paris năm nào?

1- Trong thời gian ở Luân Đôn, Nguyễn Tất Thành trao đổi thư từ thường xuyên với Phan Châu Trinh, gọi cụ Phan là Hy Mã nghi bá đại nhơn (Hy Mã là tên hiệu của Phan Châu Trinh, nghi bá là bác kính) và tự xưng là cuồng điệt Nguyễn Tất Thành (cuồng điệt là người cháu hăng say). Vì Phan Châu Trinh bị theo dõi rất kỹ, loạt thư này không qua mắt được mật thám, đó là một trong những lý do xác định khoảng thời gian 1914-1918, Nguyễn Tất Thành sống ở Luân Đôn.

2- Mật báo tìm thấy thẻ thư viện mang tên Nguyễn Ái Quốc, ghi năm 1919. (Thu Trang, Rapport ký tên Jean, in trong phần Phụ lục).

3- Nhưng Hồ Chí Minh tuyên bố khác hẳn, dưới ngòi bút Trần Dân Tiên, ông viết:
Thế giới đại chiến bùng nổ. (….) Anh Ba đến nói với tôi: “Xin từ biệt anh Nam”
– Anh đi đâu?
Tôi đi Pháp (…)
Sau khi rời Luân Đôn, anh Ba viết thư cho tôi. Đại ý thế này:
“Tôi đã gặp nhà ái quốc Phan Châu Trinh. (…) Tôi cũng gặp luật sư Phan Văn Trường và những người khác. Tôi nói với họ: Trong khi vua Duy Tân nổi dậy ở Huế, nhân dân Thái Nguyên và nhiều nơi khác khởi nghiã, thì chúng ta phải làm gì chứ?” (TDT, trang 30-31)

Mâu thuẫn: Đại chiến thứ nhất bùng nổ năm 1914. Vua Duy Tân nổi dậy, 1916 và khởi nghiã Thái Nguyên, 1917. Vậy nếu Tất Thành sang Paris khi đại chiến bùng nổ (1914) thì làm sao đã biết được những biến cố xẩy ra năm 1916 và 1917?
Có lẽ Hồ Chí Minh dùng năm 1914, chỉ với hậu ý muốn chứng minh chính mình đã dựng nên hội Người An Nam yêu nước, chính mình là tác giả những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc, chính mình chủ động đưa ra ý kiến về bản Thỉnh Nguyện ở Hội nghị Hoà Bình Versailles, năm 1919, và việc mình viết được những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc là do đã ở Pháp từ 1914 và hết sức cố gắng học tiếng Pháp.

Trần Dân Tiên viết về Hội Nghị Hoà Bình và bản Thỉnh Nguyện thư như sau:
” Họ đến để yêu cầu độc lập và tự do. Trong số đó, người ta thấy có ông Nguyễn Ái Quốc (tức là anh Ba). (…) Ông Nguyễn tổ chức nhóm người Việt Nam Yêu Nước ở Pa-ri và ở các tỉnh Pháp. Với danh nghiã của tổ chức này, ông đã đưa những yêu cầu ra trước hội nghị Véc-Xây(…) Cũng nên nhắc lại ý kiến đưa yêu cầu do ông Nguyễn đề ra nhưng lại do luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp. Cũng nên nhắc lại là ông Phan Châu Trinh và ông Phan Văn Trường không tán thành hoạt động của nhóm Việt nam Yêu nước, vì các ông ấy cho nhóm thanh niên là trẻ con” (TDT, trang 32)
Trong đoạn này có một câu Hồ Chí Minh nói thật về bản Thỉnh Nguyện thư: luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp.

Và đoạn sau này, cũng rất đáng lưu ý:
“Lúc ấy, ông Nguyễn là một người yêu nước quyết tâm hy sinh tất cả vì Tổ quốc; nhưng ông Nguyễn lúc đó rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là Công hội, thế nào là bãi công và thế nào là chính đảng (TDT, trang 34).
Ông Nguyễn không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu ông Phan Văn Trường viết thay. Ông Trường viết giỏi, nhưng không muốn ký tên. Mà chính ông Nguyễn đã phải ký tên những bài báo.
“Nhược điểm về tri thức làm ông Nguyễn rất khó chịu. Nhất là ông Trường không viết tất cả những điều ông Nguyễn muốn nói. Vì vậy, ông Nguyễn bắt tay vào việc học làm báo.
Thường lui tới toà báo “Dân Chúng”, ông làm quen với những người Pháp khác trong đó có chủ bút tờ “Đời sống thợ thuyền”. Cũng như ông Lông-ghê, người chủ bút này cũng rất đáng mến. Ông bảo ông Nguyễn viết tin tức cho tờ báo của ông. Biết rằng không thể nhờ ông Trường viết mãi, ông Nguyễn nói thật là mình cón kém tiếng Pháp. Người chủ bút nói: Điều đó không ngại, có thế nào anh viết thế ấy. Tôi sẽ chữa bài của anh trước khi đưa in. Anh không cần viết dài, năm, sáu dòng cũng được”. Ông Nguyễn bắt đầu viết rất khó khăn. Tin tức về Việt nam, ông Nguyễn không thiếu. Ông thiếu nhất là văn Pháp (…) Khi thấy viết đã bớt sai lầm, ông chủ bút bảo ông Nguyễn: “Bây giờ anh viết dài hơn một tý, viết độ bảy tám dòng”. Ông Nguyễn viết bảy, tám dòng.
Dần dần, ông Nguyễn có thể viết cả một cột báo và có khi dài hơn. Lúc bấy giờ người chủ bút bạn thân của ông Nguyễn khẽ bảo:”Bây giờ anh viết ngắn lại. Viết từng này hoặc từng này dòng. Không viết dài hơn.” (Trần Dân Tiên, trang 35- 36).

Phần thành thật là ông đã công nhận lúc ở Pháp, ông chưa biết gì về chính trị, tiếng Pháp kém và muốn học để tự viết báo lấy. Và cũng lại có chỗ không thành thật, vì ông đã nâng thời điểm ông đến Pháp từ 1919 lên 1914.
Những người dạy tiếng Pháp cho Nguyễn Tất Thành, ngoài Phan Văn Trường, còn có Nguyễn Thế Truyền và có lẽ Nguyễn An Ninh nữa. Nhiều mật báo nói đến việc ngày nào Thành cũng gặp Truyền, có khi mấy tiếng đồng hồ. Nhưng Hồ Chí Minh chỉ nhắc đến Phan Văn Trường mà không nói đến hai người kia vì Nguyễn Thế Truyền sau chống Cộng và Nguyễn An Ninh, vô chính phủ và thân với nhóm Đệ Tứ.

Nguyễn Tất Thành chính thức nhận tên mình là Nguyễn Ái Quấc từ Hội nghị Tours.
Hémery viết “Nguyễn xoay sở để được mời đi dự Đại Hội đảng Xã hội ở Tours, nhân danh đại biểu khu 13 của nhóm Xã hội Đông dương ma (fantomatique). Ngày 27/12 anh phát biểu ủng hộ kiến nghị Cachin-Frossard, ủng hộ việc đảng Xã hội gia nhập Quốc Tế cộng sản” (Hémery, trang 46).
Tại hội nghị Tours (bắt đầu ngày 27/12/1920), Nguyễn Tất Thành xuất hiện công khai dưới tên Nguyễn Ái Quốc “ông Nguyễn lắng nghe nhưng không hiểu rõ lắm, vì người ta thường nhắc đi nhắc lại những tiếng, những câu: chủ nghiã tư bản, giai cấp vô sản, bóc lột, chủ nghiã xã hội, cách mạng (…) Ông Nguyễn nhức đầu vì khó hiểu” (TDT, trang 46-47). Tuy không hiểu rõ những bàn cãi chính trị trong hội nghị Tours, Nguyễn Tất Thành bỏ phiếu cho Đệ Tam quốc tế vì “Đệ Tam quốc tế nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ” (TDT, trang 49). Đoạn này ông cũng thành thực, nhưng trong cuốn Hồng Hà sẽ bị bỏ hẳn và thêm vào những trang dài nói là ông đã nghiên cứu kỹ lý thuyết Mác-Lê trước khi dự Hội nghị Tours.

4- Việc Tất Thành sang Pháp năm 1914, khó tin, cho nên khi viết cuốn Thời thanh niên của bác Hồ (nxb Thanh Niên, 1976), Hồng Hà được lệnh sửa lại:
“Anh bỏ nghề phụ bếp ở Luân Đôn, sang Pháp, đấy là vào cuối năm 1917 (Hồng Hà, trang 38)
Vừa tới Pa-ri, anh Nguyễn Ái Quốc đến ở nhà số 6 phố Vi-la đề Gô-bơ-lanh [6 villa des Gobelins], một phố yên tĩnh của quận 13. Đây là nhà của luật sư Phan Văn Trường. Cùng ở có cụ Phan Châu Trinh mà anh Nguyễn Ái Quốc có thư từ thăm hỏi luôn khi anh còn ở Luân Đôn. Ông Trường nhường cho anh một buồng con trên gác ba, vừa đủ kê một cái bàn, một cái giường và một cái tủ con. Dạo ấy, nhà số 6 phố Vi-la đề Gô-bơ-lanh là một trung tâm gặp gỡ của nhiều Việt kiều ở Pa-ri. Có khi bà con đến chơi ăn ở liền mấy ngày (…) Cụ [Phan Châu Trinh] làm nghề ảnh tư ngay tại nhà số 6. Để sống, anh Nguyễn – cả người Việt lẫn người Pháp quen gọi anh Nguyễn Ái Quốc như thế – cùng với một kiều bào khác là Tuyết giúp việc cho cụ Phan đồng thời học nghề rửa ảnh và phóng đại ảnh.
Cụ Phan là một nhà yêu nước chân thành, nổi tiếng ở Việt Nam và nước ngoài. Cụ hơn anh Nguyễn 19 tuổi, Còn ông Trường vốn là thông ngôn, học đến tiến sĩ luật học, làm nghề luật sư ở Pa-ri. Ông giỏi tiếng Pháp, vào quốc tịch Pháp, có nghiên cứu chủ nghiã Mác, quen biết nhiều trí thức và nhà chính trị Pháp. Điều mà anh Nguyễn băn khoăn hỏi hai người lúc đó làm gì cho đất nước trong khi đồng bào khao khát cách mạng thì không được trả lời thoả đáng, rõ ràng.
Anh Nguyễn vừa làm nghề rửa ảnh vừa chăm chỉ học thêm tiếng Pháp với ông Trường” (Hồng Hà, trang 19).
Trích đoạn này cho một số thông tin đáng lưu ý. Đặc biệt câu: Vừa tới Pa-ri, anh Nguyễn Ái Quốc đến ở nhà số 6 phố Vi-la đề Gô-bơ-lanh [6 villa des Gobelins].

Chính câu này đã xác định ngày tháng Nguyễn Tất Thành đến Paris:
Bởi vì căn nhà số 6 villa des Gobelins chỉ có sau khi Phan Văn Trường giải ngũ, tức là từ tháng 4/1919, ông về sống tại Paris, như đã ghi trong hồi ký. Khoảng 1913-1914, Phan Văn Trường ở Rue Bertholet. 1914-1915 đi tù. Và sau khi ra tù, ông làm việc trong Công Binh Xưởng ở Toulouse. Tóm lại, nếu Nguyễn Tất Thành đến Paris ở ngay nhà Phan Văn Trường, thì chỉ có thể là sau tháng 4/1919 (Phan Văn Trường giải ngũ, lên Paris) và trước tháng 6/1919 (Nguyễn Tất Thành đem bản Thỉnh nguyện đến Versailles).

Vậy, có thể xác định chắc chắn rằng: Nguyễn Tất Thành đến Pháp trong tháng 5 hoặc tháng 6 năm 1919.
Nguyễn Tất Thành ở nhà số 6 villa des Gobelins của Phan Văn Trường hai năm, từ tháng 5- 6/1919, đến ngày 14/7/1921, Thành dọn tới số 9, Impasse Compoint, khu 17 (Hémery, trang 48). Đây là khu phố nghèo dành cho thợ thuyền, Thành tiếp tục nghề ảnh ở một cửa hiệu gần nhà. Ngày 14/3/1923, Thành dọn về trụ sở báo Le Paria (Người cùng khổ), số 3 phố Marché des Patriaches (HH, trang 187).
Khi đã xác định được đúng thời gian Nguyễn Tất Thành ở Pháp. Chúng ta có thể đi sâu hơn nữa vào tổ chức Việt kiều, vào sự phát sinh cái tên Nguyễn Ái Quấc và những công trình Hồ Chí Minh nhận là của ông nhưng lúc đó ông chưa có mặt tại Paris.

Hội Đồng Bào Thân Ái (La Fraternité des Compatriotes)

Phan Văn Trường viết:
“Một ngày trong năm 1912, sau khi đưa đám một thiếu niên An Nam, học sinh trường Parangon [trường Nguyễn Thế Truyền học], một số đồng bào đưa ra ý kiến lập hội Ái hữu Sinh viên An Nam tại Pháp (Association amicale des étudiants annamites en France). Họ đề nghị tôi nghiên cứu dự trình để thực hiện càng sớm càng tốt. Tôi trả lời ngay: “Làm thì dễ, Pháp có luật 1/7/1901, tự do lập hội. Nhưng luật không chưa đủ, còn phải tính đến chính sách thuộc địa nữa. Các bạn nên biết, nếu ta lập hội mà không có phép, chính quyền thuộc địa sẽ tìm cách dẹp ngay.” (PVT, trang 87). Tuy nói vậy, nhưng ông cũng làm:
“Tôi bắt tay vào việc. Viết bản nội quy và thảo một chương trình [hành động] dài. Hội được thành lập trong sự hoan hỉ của đồng bào đã giao phó trách nhiệm cho tôi. Tôi yêu mến đặt tên nó là Thân Ái (La Fraternité). Hội có mục đích:
1- Giúp sinh viên Đông Dương xa gia đình có cơ hội gặp gỡ, kết bạn, đến chơi và giúp đỡ nhau trong trường hợp rủi ro, bệnh hoạn.
2- Học chung với nhau để trao đổi kiến thức khoa học và văn chương.
Hội Thân Ái mỗi tháng tổ chức nhiều cuộc hội họp, và diễn thuyết.” (Hồi ký PVT, chương 13, trang 87-88).

Qua sinh hoạt của hội, Phan Văn Trường gặp Phan Châu Trinh năm 1912. Sau này, người ta thường viết Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường lập hội là không đúng. Người lập hội là Phan Văn Trường.
Hội Đồng bào Thân ái là tế bào đầu tiên của người Việt tại Pháp.
Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh, trở thành hai nhà lãnh đạo của phong trào Việt kiều yêu nước tại Pháp. Vì hoạt động của hội, mà Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh bị bắt năm 1914. Hội Đồng bào Thân ái phải ngưng hoạt động. Phan Văn Trường viết:
“Hội hoạt động công khai không mờ ám. Chúng tôi cũng biết là có mật thám trà trộn trong đám hội viên, nhưng không sao, càng tỏ cho họ thấy là hội của chúng tôi theo đuổi những mục đích hoàn toàn hợp pháp và đáng khuyến khích. (…) Bọn mờ ám vẫn rình rập, với thế lực trong chính quyền thực dân, thế nào họ cũng phá. Hội của chúng tôi bị tẩy chay, họ phao tin hội này là ổ cách mạng, gián tiếp cảnh cáo hội viên nếu cứ cứng đầu không chịu bỏ thì có ngày sẽ phải hối hận”. (PVT, trang 89).
Theo mật báo của mật thám thì Hội Đồng Bào Thân Áiphải giải tán vào năm 1916 (Thu Trang, trang 43). Tuy nhiên thông tin này chưa chắc đã đúng. Có thể hội phải giải tán sớm hơn, từ khi hai vị thủ lĩnh bị bắt vào tháng 9/1914.
Hội Người An Nam yêu nước ra đời.

Hội Người An Nam Yêu Nước (Le Groupe des Compatriotes Annamites) ra đời.
Sự xuất hiện bút hiệu Nguyễn Ái Quấc.

Về mặt chính thức, Hội Người An Nam Yêu Nướcthành lập sau thế chiến, tức là sau khi Phan Văn Trường giải ngũ trở về Paris vào tháng 4/1919. Căn nhà 6 villa Gobelins, quận 13, của ông trở thành trụ sở của hội, theo mật báo Pháp.
Nhưng về mặt không chính thức, có thể hội đã hình thành rất sớm, tại Toulouse, do Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền thành lập. Phan Văn Trường, sớm để ý đến Nguyễn Thế Truyền, 12 tuổi, được đem về Pháp học, ở trường Parangon, năm 1910. Hai người sau này lại cùng ở Toulouse từ 1916 đến 1919. Thời gian này Phan Văn Trường ở trong quân đội, làm thông ngôn cho lính thợ và Nguyễn Thế Truyền đang học kỹ sư.
Một mật báo cho biết:
“Hội những người An Nam yêu nước đã được thành lập từ nhiều năm nay do hai nhà cách mạng chống Pháp là Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh. Đó là một nhóm hoạt động rất tích cực.
Trong suốt thời kỳ chiến tranh (1914-1918), trụ sở Hội này là nơi hẹn của rất nhiều binh lính An Nam và hạ sĩ quan cùng sĩ quan có cấp bực. Từ hồi hai người trên, Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh, bị bắt vì tội chống an ninh quốc gia vào năm 1915, tuy Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh vẫn giữ vai trò lãnh đạo Hội một cách không chính thức, nhưng thực tế thì đã chính là do Nguyễn Ái Quốc” (Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, Đông nam Á, Paris, 1983, trang 44)
Mật báo này rất quan trọng, vì nó cho biết:

1– Như vậy cái tên Nguyễn Ái Quấc đã xuất hiện trong khoảng 1914-1918, ít nhất là từ 1918.Tức là trước khi Nguyễn Tất Thành sang Paris rất lâu (Tất Thành sang Paris khoảng tháng 5-6/1919, như trên đã chứng minh).

2– Hội Người An Nam Yêu Nước được thành lập trong khoảng 1914-1918. Như vậy, chỉ có thể ở Toulouse, nơi Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền sống từ 1916 đến 1919. Trong thời gian này Phan Văn Trường đã bị buộc tội xúi giục binh lính An Nam làm loạn, viết đơn xin giải ngũ.

3– Ba người gần Ninh nhất là Lê Văn Thử tác giả Hội kín Nguyễn An Ninh (Nam Việt, 1949), Phương Lan Bùi Thế Mỹ-Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh 1899-1943 (Thúy Phương, Sàigòn, 1970) và Hồ Hữu Tường- 41 năm làm báo (Đông Nam Á, Paris, 1984), đều ghi Nguyễn An Ninh sang Pháp lần đầu năm 1918.

Vậy cái tên Nguyễn Ái QuấcQuấc chứ không phải Quốc, là dấu ấn của Ninh. Ninh người Nam, chỉ có người Nam, theo Huỳnh Tịnh Của, mới viết Quấc. Trường và Truyền người Bắc, không viết như thế.

4– Bộ Thuộc địa bắt đầu theo dõi Nguyễn Ái Quấc vào khoảng tháng 10/1919. Báo cáo của Jean, tháng 10/1919, có đoạn sau:
“1- Ông Guesde nói phải, có Nguyễn Ái Quốc tên thật là Nguyễn Văn Quốc, người Sàigòn, học ở bên này đã lâu lắm. Song chưa biết tên ấy ở đâu – Phải quen Phan Văn Chường thời mới biết tên ấy được.
2- Xin ông làm ơn hỏi Sureté [An ninh] Paris xem Chường có ở Paris bây giờ không, hay là đi voyage như lời sergent interp. Khương nói và cho tôi chỗ hắn ở (số nhà và phố)” (Thu Trang, trang 54)
Theo báo cáo này, người mật thám tên là Jean, đến tháng 10/1919, chưa xác định được nhân dạng Nguyễn Ái Quốc, lúc thì coi Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn An Ninh [người Sàigòn], khi thìcoi Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Thế Truyền [học ở bên này đã lâu lắm], và chưa biết địa chỉ của Hội người An Nam yêu nước là nhà Phan Văn Trường, số 6 villa des Gobelins.

5- Về hoạt động của nhóm, Daniel Hémery viết:
Từ mùa thu năm 1919, Nhóm Những Người Yêu Nước có cột viết trên các báo Popupaire, Humanité, Libertaire, báo của CGT, La vie ouvrière và Le Peuple. Họ diễn thuyết, tổ chức những buổi họp mặt công cộng, với chủ đích bảo vệ quyền lợi Đông Dương trong nền văn chương chống thực dân theo cách của những nhà văn Indonésia (Nam Dương) hay Ấn độ. Cuối năm 1919, Nguyễn Ái Quốc, theo lời khuyên của Paul Vigné d’Octon là người hết sức chống chế độ thuộc địa, làm việc ráo riết tại thư viện Quốc gia, sửa soạn ra cuốn sách Les Opprimés (Những kẻ bị đàn áp), có thể là sơ thảo văn bản tương lai Procès de la Colonisation, và nghiền ngẫm dự định dịch các tác phẩm tây phương, như L’Esprit des lois [Vạn pháp tinh lý] sang Quốc ngữ.” (Hémery, trang 45)
Câu này xác định hoạt động của nhóm Ngũ Long trên báo chí và diễn thuyết. Nhưng Hémery nhầm Nguyễn An Ninh với Nguyễn Tất Thành:
Trong các bài viết và diễn thuyết được ghi lại, Ninh thường nhắc đến kinh nghiệm cần học hỏi của Ấn Độ, Nam Dương. Ninh chơi thân với Paul Vigné d’Octon, nhóm anarchiste và Ninh viết cho báo Le Libertaire. Ninh viết cuốn La France en Indochine chống Pháp mãnh liệt in năm 1924, mang về Việt nam trong chuyến đi với Phan Châu Trinh, bị tịch thu hết sạch (nhưng có thể đọc bài tiểu luận La France et L’indochine đăng trên Europe số 31, ra ngày 15/7/1925 là thấy rõ nội dung). Ninh dịch Contrat social, (Dân ước) của Rousseau và chắc có ý dịch cảL’Esprit des lois [Vạn pháp tinh lý]của Montesquieu nữa. Còn Tất Thành, cuối năm 1919, mới sang Pháp vài tháng, đang học tiếng Pháp, làm sao mà nghĩ đến chuyện viết sách và dịch sách được?

6– Một mật báo khác:
“Vào những năm 1920-1921, Hội những người An Nam yêu nước” đặt trụ sở tại số 6 Villa des Gobelins. Số người lãnh đạo của Hội này, đã từng làm công việc tuyên truyền chống Pháp một cách rất mạnh nói chung, và đặc biệt chống ông Sarraut (toàn quyền Đông Dương) nói riêng. Những người này cho là ông ta đã gây nên nhiều nỗi đau khổ tại nước họ.
Tháng 10/năm 1921, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Khánh Ký, Lê Văn Thuyết và Hai Tân đã quyết định đề nghị ám sát ông Sarraut (…) Nhưng nhờ sự can thiệp của Phan Châu Trinh mà dự án này không đem ra thi hành” (Thu Trang, trang 45)
Những thông tin trong mật báo này khá đúng, trừ việc Phan Văn Trường định ám sát Sarraut là sai. Phan Văn Trường là người rất thận trọng, ghét bạo lực, hành động công khai, ông đối lập với Sarraut bằng luật pháp và ngòi bút, không bằng bạo lực. Nguyễn Thế Truyền có viết bài đả kích Sarraut, sôi nổi hơn Phan Văn Trường.

Tác giả những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc là ai ?

Trong thư ngày 27/3/23, cụ thân sinh ra ông Nguyễn Thế Truyền khuyên con:“chớ bắt chước Nguyễn Ái Quốc làm báo nói lăng nhăng, chớ chơi với Nguyễn Ái Quốc” (ĐHT, trang19). Như thế, cái tên Nguyễn Ái Quốc, tuy là tên chungtên ma, nhưng đã thành tên riêng của một người: Nguyễn Tất Thành. Và sự bí mật về việc ai viết những bài ký tên Nguyễn Ái Quấc gần như toàn diện, đến cả cụ thân sinh ra Nguyễn Thế Truyền cũng không biết con mình viết bài ký tên Nguyễn Ái Quấc!

Hồ Chí Minh hiển nhiên nhận mình là Nguyễn Ái Quốc tác giả các bài báo. Nhưng nhiều dữ kiện chứng minh ngược lại.

1- Trước hết, về phiá chính quyền Pháp:
– Ngày 12/9/1923 (sau khi Nguyễn Tất Thành sang Nga), Tổng Thanh Tra quân đội Đông Dương và người Đông Dương gửi thông tri cho Toàn Quyền Đông Dương, có đoạn:
“Les articles publiés sous le nom de Nguyễn Ái Quốc ne sont pas de lui ou ont été tout au moins l’objet des plus sérieures retouches. Cet annamite parle et écrit insuffisament le français pour rédiger tout ce qui paraît sous son nom” (Contrôleur général des troupes indochinois et des Indochinois à Gouverneur général de L’Indochine le 12/9/1923) (Slotfom Série I, Carton II – ĐHT, trang124) (Những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc không phải do y viết hoặc đã được sửa chữa rất nhiều. Khả năng nói và viết tiếng Pháp của tay An Nam này không đủ để viết những bài y ký tên).
– Về phía mật thám Pháp: “Về những bài báo, có một vài mật thám đã ghi là do chính Phan Văn Trường viết và ký tên Nguyễn Ái Quốc” (Thu Trang, trang 95)

2- Bất cứ ai cũng thấy là một người mới học tiếng Pháp như Nguyễn Tất Thành không thể viết những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc. Theo Hoàng Xuân Hãn: “bí danh này có thể là tên tượng trưng của tất cả người Việt (Nguyễn là họ thông thường của nhiều người Việt, chứ không phải chỉ là họ của Tất Thành). Nguyễn yêu nước, ba chữ ấy ứng vào tiếng Pháp: Groupes des patriotes Annamites thấy ký ở dưới truyền đơn: Bản yêu cầu tám điểm. Có lẽ một mặt vì họ Nguyễn mà mật thám coi đó là tên của Nguyễn Tất Thành. Rồi sau Nguyễn Tất Thành cũng mang tên ấy một thời gian mà thôi” (Thu Trang, trang 114)

– Về bản Thỉnh nguyện thư gửi Hội nghị Hoà bình năm 1919:
Mật thám ghi:“Bản yêu cầu gửi cho Hội Nghị Hoà bình là do Phan Văn Trường viết. Những điểm yêu sách đã do Phan Châu Trinh dịch sang chữ An Nam” (Thu Trang, 104)
– Còn Hoàng Xuân Hãn cho rằng: Phan Châu Trinh viết phần Hán văn, Phan Văn Trường dịch ra Pháp văn, Nguyễn Tất Thành làm bài lục bát Việt nam yêu cầu ca. (Thu Trang, trang 9).

Nhưng qua văn bản, chúng tôi có thể xác định: Phan Văn Trường viết thẳng phần tiếng Pháp, vì đây là chủ đề một buổi diễn thuyết của ông năm 1913 (Les revendications indigènes – Những thỉnh nguyện của người bản xứ), như đã nói ở trên. Lời văn trong bài phù hợp với lối viết của Phan Văn Trường: Kín đáo, kiêu kỳ, mỉa mai, thâm thuý. Phan Châu Trinh dịch sang Hán Văn. Nguyễn Tất Thành làm bài thơ (đúng hơn là vè). Bài này, Thu Trang chụp được bản chép tay, cho thấy Tất Thành không biết làm thơ và trình độ quốc ngữ còn kém. (Xem phần phụ bản ở dưới, chúng tôi có trích một đoạn).

3- Hồ Hữu Tường là người đầu tiên cho biết về nhóm Ngũ Long, có vài chi tiết sai nhưng đại thể là đúng: “Khi ra rù, hai cụ được Nguyễn Thế Truyền, học xong ở Toulouse lên hiệp tác. Đầu tháng bẩy cụ Tây Hồ móc nối được với Nguyễn Tất Thành, lúc đó ở London, nên viết thơ gọi về Paris. (…), Đến 1918, nhóm nầy lại được Nguyễn An Ninh ở Sài gòn sang nhập bọn.
Người ngoài cho đó là năm con Rồng, bởi người Việt xưng mình là “con Rồng”. Linh hồn của nhóm “Ngũ long” nầy là cụ Phan Châu Trinh.
Và khi chường ra công chúng, nhứt là khi viết báo chống thực dân, thì ý kiến thường do cụ Tây Hồ xướng ra, Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh thảo thành tiếng Pháp, và giao cho Tất Thành đem giao cho nhà báo với một bút hiệu chung.
Về cái bút hiệu nầy, có một giai thoại kể ra cũng buồn cười. Lúc ban đầu, các cụ chọn bút hiệu là Nguyễn Ố Pháp. Nghiã là thằng Nguyễn ghét người Pháp. Tên nầy được độc giả Pháp hoan nghinh lắm, vì giọng nói dí dỏm của người Việt nam, lại thêm câu văn của Ninh và Truyền gọt giũa nên có duyên. Độc giả gởi thơ đến nhà báo hỏi Nguyễn Ố Pháp là ai và tên ấy có nghiã gì? Các cụ buộc lòng phải dịch cho ngay tình. Các bạn Pháp phản đối cái tên cực đoan dễ ghét, mà tiếng Pháp gọi là sô vanh (chauvin), và đề nghị đổi đi. Từ đó bút hiệu Nguyễn Ố Pháp bị đổi là Nguyễn Ái Quốc. Về sau bốn vị kia tách ra, tên Nguyễn Ái Quốc còn lại riêng cho Hồ Chí Minh”. (Hồ Hữu Tường, 41 năm làm báo, Đông Nam Á, Paris, 1984, trang 18-19).

Hồ Hữu Tường kể tiếp một giai thoại khác:
Bộ trưởng Thuộc địa tống trát đòi “Nguyễn Ái Quốc đến cấp tốc tại Bộ thuộc địa gặp ông bộ trưởng”, nhưng lại đem trát giao tận nhà Phan Châu Trinh. Cụ Tây Hồ gọi Tất Thành đến giao tờ trát, Tất Thành cầm trát đến gặp ông bộ trưởng Pháp và câu đầu nói xỏ rằng “Nguyễn Ái Quốc là tôi. May mà trát gởi đến nhà chú tôi là Phan Châu Trinh, nên được chú tôi đưa lại. Không thì lạc mất rồi! (…) Ngày ấy, cụ Tây Hồ xỏ Tây tế nhị xong, xuống chợ Mouffetard mua lòng lợn về mời đủ năm Rồng xơi một tiệc “khải hoàn”. (Trang 19-20).

Hồ Hữu Tường viết tiếp về chương trình Ngũ Long về nước hoạt động:
“Theo lời cụ Phan Văn Trường thuật lại, thì năm 1922, khi Nguyễn An Ninh sắp sửa về nhà mà sáng lập tờ báo La Cloche fêlée, thì cụ Phan Châu Trinh có đưa ra một phân công, gọi là “ngũ long tề khởi”. Tại quê nhà, bầu không khí thực dân và phong kiến còn quá nặng, Ninh lãnh sứ mạng đem tư tưởng dân quyền của Pháp ra mà “dĩ di diệt di”. Nên chi báo của Ninh nêu lên đường lối là “cơ quan tuyên truyền cho tư tưởng Pháp” (organe de propagande des idées françaises). Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Thế Truyền thì tựa vào đảng xã hội, sau biến thành đảng cộng sản, nhưng Thành thì thiên tả mà đi vào lao động, Truyền thì đứng trên lập trường “quốc gia mượn thế lực cộng sản để mưu đồ sự giải phóng dân tộc”.
Còn hai cụ Phan thì chờ Ninh xung phong, dọn dẹp chông gai bên nhà, hai cụ sẽ về góp sức mà tiến lên gây một phong trào dân chủ. Nhưng mà theo kế hoạch nầy, phân ra thì có, mà tụ lại thì chưa. Năm 1925, quả Ninh có rước hai cụ Phan về xứ. Nhưng sang năm 1926, cụ Tây Hồ lìa trần, Ninh lo tổ chức quần chúng, giao cho cụ Trường đứng mũi chịu sào tờ L’Annam. Rồi Ninh vào tù, cụ Trường ba chìm bẩy nổi, bị án tù, sang Paris chịu vào khám.Còn Tất Thành mang tên chung là Nguyễn Ái Quốc, theo cộng sản luôn, một đi không trở lại.
Nguyễn Thế Truyền vào đảng cộng sản Pháp, mượn phương tiện mà thành lập Việt Nam Hồn, sau đổi lại là Hồn Việt nam, rồi Phục Quốc… ” (HHT, sđd, trang 24-25).

Về bản Le Procès de la colonisation française (Bản án chế đô thực dân Pháp)

Tác giả là Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Thế Truyền viết tựa. Nhưng thực ra ai viết ?

1- Ngô Văn viết:
“Sau khi Phan Châu Trinh khởi hành về Sàigòn, vào tháng 5 năm 1925 một luận văn châm biếm nẩy lửa do Thư điếm Lao động (Librairie du Travail) phát hành và lập tức bị cấm ở Đông Dương. Đó là tập Bản án chế độ thực dân Pháp (Procès de la colonisation française) ký tên Nguyễn Ái Quốc, nhưng có thể là do Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền viết” (Ngô Văn, trang 42).

2- Trần Dân Tiên chỉ viết một câu ngắn gọn về văn bản này:
“Ông Nguyễn chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển: “Bản án chế độ thực dân Pháp”; quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia. Đầy hăng hái, ông Nguyễn viết cả vở kịch “Rồng tre”. (Trần Dân Tiên, trang 37).
Tại sao Hồ chí Minh không nói rõ là ông đã viết Le Procès trong hoàn cảnh nào? Nhất là lại in sau khi ông đi Nga hai năm. Lý do dễ hiểu: có lẽ Hồ Chí Minh chưa đọc Le Procès khi ông viết những dòng này năm 1947, cho nên ông mới viết câu: “quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia”.

3- Vậy tạm đưa ra giả thuyết: Nguyễn Tất Thành không đủ khả năng tiếng Pháp để viết tác phẩm này. Có thể Nguyễn Thế Truyền đã tập hợp những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc, sửa đổi rồi viết tựa. Văn phong trực tiếp, đả kích mạnh mẽ, không thâm trầm kín đáo như văn Phan Văn Trường, vậy tác giả có lẽ là Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền. Tuy nhiên cần phải khảo sát văn bản các bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc, mới có thể xác định được.

4- Còn vở kịch Rồng tre không biết ai viết (có thể là Nguyễn An Ninh), nhưng chắc chắn không phải Tất Thành, vì chữ Rồng ở đây có ý tự trào, ngạo nghễ ám chỉ đám Ngũ Long, tuy là đồ chơi mà… là Rồng, tức là chơi lối… Rồng (Đế vương). Lại vừa có ý nhạo vua Khải Định là Rồng mà…rồng tre (đồ chơi). Ý nghĩa thâm thúy như thế, nhưng chắc ông Hồ không hiểu rõ, nên mới nhận là mình viết. Bởi nếu ông viết thì không thể viết như thế, khác nào lậy ông tôi ở bụi này: đã tự coi mình là Nguyễn Ái Quốc duy nhất, thì làm sao lại chấp nhận có các con Rồng khác?

Hội Liên hiệp thuộc địa (Union Intercoloniale) và báo Le Paria (Người cùng khổ)

Hội Liên hiệp Thuộc địa -là cơ sở quan trọng thứ nhì, đối với người Việt tại Pháp, sau Hội Người An Nam Yêu nước – quy tụ đại diện những nước nhược tiểu bị Pháp đô hộ, họp lại để cùng chống thực dân. Hội ra tờ báo Le Paria (Người cùng khổ).

Trần Dân Tiên viết về vai trò của ông trong tờ báo này như sau:
“Để mở rộng việc tuyên truyền đến các thuộc địa, ông Nguyễn và các đồng chí của ông ra tờ báo Người cùng khổ (Le paria) do ông là chủ bút kiêm chủ nhiệm (…) Ông Nguyễn kiêm cả viết, chủ nhiệm, chủ bút, chữa bài, thủ quỹ, xuất bản và liên lạc (Trần Dân Tiên, trang 44).
Hồng Hà:Báo Người cùng khổ, cơ quan ngôn luận của vô sản thuộc địa do anh Nguyễn Ái Quốc sáng lập, làm chủ bút kiêm chủ nhiệm, phát hành trong những năm từ 1922 đến 1924″(Hồng Hà, trang 150)
Anh Nguyễn viết khỏe nhất và nhiều nhất, có số anh viết tới ba, bốn bài. Chính từ đây và từ năm 1922 này, người đọc được thấy những bài báo đầy tính chiến đấu mãnh liệt của anh Nguyễn” (Hồng Hà, trang 156)
Chỉ cần lướt qua tờ Le Paria cũng thấy: đây là tờ báo chống thực dân một cách trào phúng và thâm thúy, kiểu “gậy ông đập lưng ông”, phải đủ những điều kiện: có óc châm biếm, có uy-mua Pháp, thâm hiểu văn hoá Pháp và viết tiếng Pháp hay mới viết được. Nguyễn Ái Quấc làm đại diện cho Đông Dương là đúng lắm, vì bút danh Nguyễn Ái Quấc đã nổi tiếng trên báo chí Pháp từ mấy năm nay. Nhưng những bài ký tên Nguyễn Ái Quấc có phải là Tất Thành viết không? Hay chủ yếu vẫn là Thế Truyền, An Ninh, Văn Trường? Trong một bài bênh vực Nguyễn Ái Quấc, Nguyễn Thế Truyền viết: “Tiếng nói của Nguyễn Ái Quốc là tiếng nói của toàn dân Việt Nam” hình như ngụ ý điều đó.

Hội Liên Hiệp thuộc địa (Union intercoloniale) được sáng lập tháng 7/1921, tại Paris. Mỗi thuộc địa có một đại diện trong Ban chấp hành. Trụ sở: số 9 rue Vallette, sau đổi đến số 3 rue Marché des Patriarches.
Tờ báo của hội: Le Paria (Người cùng khổ), ra hàng tháng, dưới sự bảo trợ của nhà văn Henri Barbusse. Báo viết tiếng Pháp, tên in ba thứ chữ: Pháp, Hán và Ả Rập, tồn tại 4 năm, ra được 38 số: số 1, ra ngày 1/4/1922 và số 38 ra ngày 1/4/1926.

Thành phần của Hội khi mới thành lập: Marie Bloncourt, luật sư, đại diện Dahomey (Phi Châu) làm Tổng thư ký. Nguyễn Ái Quốc là đại diện Đông Dương. Jean Baptiste, đại diện Guadeloupe, v.v…
Lúc đầu có độ 200 hội viên. Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh đều là hội viên từ 1922, cả ba đều đã diễn thuyết nhiều lần tại trụ sở của Hội hoặc ở Hội trường hội Bác Học (Salle des Sociétés savantes) đường Danton. Ví dụ, ngày 18/2/1923, Phan Văn Trường diễn thuyết so sánh sự cai trị Việt Nam của Pháp và của Trung Hoa. Nguyễn An Ninh diễn thuyết nhiều lần tại Hội trường hội Bác Học. Ngày 17/10/1924 Nguyễn Thế Truyền diễn thuyết về Đông Dương dưới sự cai trị của Albert Sarraut và Martial Merlin. Mỗi lần Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh diễn thuyết, Phan Châu Trinh đều đến nghe. (Đặng Hữu Thụ, trang 40)

Số 4, tháng 7/1920, báo Le Paria có 2 bài ký tên Nguyễn Ái Quốc, tựa đề La haine des racesLes cilivisateurs. Các bài ký tên Nguyễn Ái Quốc đều có ảnh kèm, bài L’Humanité colonialetrong số 6 (tháng 7/1920) có kèm ảnh những người bị xử bắn, và trong bài báo tác giả mỉa mai ghi: đó là hành động của những con người văn minh.(Thu Trang, trang 144).
Bài đầu tiên ký tên Nguyễn Thế Truyền xuất hiện trên Le Paria, số 9 ra ngày 1/12/1922, tựa đề “Un bolchevick jaune” (Một người Bôn-sơ-vích da vàng), nội dung bênh vực Nguyễn Ái Quấc, bị báo La Dépêche Coloniale (Bản tin thuộc địa) đả kích, trong bài Truyền viết, có câu: “Tiếng nói của Nguyễn Ái Quốc là tiếng nói của toàn dân Việt Nam”. (ĐHT, trang 42).

Sau khi Nguyễn Tất Thành đi Nga, tên Nguyễn Thế Truyền xuất hiện thay tên Nguyễn Ái Quấc:
Số 21 ra ngày 1/12/1923, bài La vase de Chine (Chiếc bình sứ Trung Hoa), đả kích kịch kiệt bác sĩ Cognacq, nguyên giám đốc học chính Đông dương, về tội hối lộ. Số 22, Nguyễn Thế Truyền nhắc đến lòng yêu nước của Phan Tuấn Phong và Phan Trọng Kiên, anh em ruột của Phan Văn Trường, trong phong trào Đông Du, bị bắt năm 1913. Số 24, đả kích toàn quyền Albert Sarraut đầu độc dân tộc VN bằng rượu và thuốc phiện. Số 27, viết về Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Điện. Số 28, đả kích Outrey, dân biểu Nam Kỳ, tuyên bố trong quốc hội Pháp không nên áp dụng luật ân xá tại Việt Nam, vì người Việt Nam không biết ân xá là gì. Truyền chê Outrey dốt nát không biết gì vì chín trăm năm trước vua Lý Thánh Tông đã ân xá cho phạm nhân, trong một năm trời làm rét mướt. (ĐHT, trang 43).

Từ ngày 4/11/1923, Nguyễn Thế Truyền thay thế Nguyễn Ái Quốc làm trị sự toà báo. Đầu năm 1925, Nguyễn Thế Truyền trở thành phó tổng thư ký của Hội và chủ bút tờ Le Paria. Trong năm 1925, hầu như số nào cũng có bài của Nguyễn Thế Truyền. Sau số kép 36-37 (tháng 10/1925) toàn bộ viết bài bênh vực Phan Bội Châu, Nguyễn Thế Truyền ra khỏi Le Paria để sửa soạn ra tờ Việt Nam Hồn, tiếng Việt. Không có Nguyễn Thế Truyền, Le Paria chỉ ra được một số chót (số 38, tháng 4/1926) rồi đình bản. (ĐHT, trang 51)

*
Trong thời gian từ 1919 đến 1923, nhóm Ngũ long, qua bút hiệu chung Nguyễn Ái Quấc, rồi từ 1923 đến 1927, chỉ còn lại Nguyễn Thế Truyền ở Pháp, đã tả xung hữu đột, tranh đấu quyết liệt cho sự độc lập và dân chủ của đất nước. Sự phân công có thể như sau: Phan Châu Trinh, lãnh đạo tinh thần; Phan Văn Trường lãnh đạo chính thức. Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh viết nhanh, viết mạnh. Nguyễn Tất Thành phụ trách phần tin tức, việc quản trị Hội Liên Hiệp Thuộc Điạ và cổ động bán báo, in truyền đơn…

Phần lớn những người tham gia kháng chiến chống Pháp, từ Nho học đến Tây học, đều học giỏi nổi tiếng, nhưng đã vất bỏ văn bằng sang một bên để dấn thân. Hồ Chí Minh là một trường hợp đặc biệt, dù con quan, nhưng sớm bỏ học, trình độ quốc ngữ kém (xem bài Việt Nam Yêu Cầu Ca trong phụ bản dưới đây), tiếng Pháp sơ sài, ông đã sống rất cực khổ, làm bồi bếp trong suốt quãng đời thanh niên từ 1911 đến 1919, khi tới Pháp. Tại Pháp cũng chỉ có hai năm ở nhà Phan Văn Trường khu Gobelins là khá, sau này ra Compoint, một khu nghèo nàn thợ thuyền và ông cũng tiếp tục sống rất cơ cực, không kể còn có mặc cảm sâu xa đối với các bạn đồng hành trí thức. Đó là những lý do khiến Nguyễn Tất Thành theo cộng sản, mặc dù ông chưa hiểu rõ lý thuyết cộng sản như thế nào. Sau này, khi lên cầm quyền, việc đầu tiên là ông sẽ bắt mọi người phải kính nể, phải gọi ông bằng Bác, phải cúi đầu trước chân dung ông, và riêng đối với trí thức, ông sẽ dành cho họ những nhục nhằn mà ông đã phải gánh chịu trong suốt cuộc đời niên thiếu.

Phan Khôi, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo… là những người sẽ phải gánh tội của trí thức. Phan Khôi nặng nhất vì đã dám trực tiếp biếm vua: Tội đáng trảm quyết trên phương diện tinh thần.

Hết phần thứ nhất

Phụ bản

Revendications du Peuple Annamite

Depuis la victoire des Alliés, tous les peuples assujettis frémissent d’espoir devant la perspective de l’être de droit et de justice qui doit s’ouvrir pour eux en vertu des engagements formels et solennels, pris devant le monde entier par des différentes puissances de l’entente dans la lutte de la Civilisation contre la Barbarie.
En attendant que le principe des Nationnalités passe du domaine de l’idéal dans celui de la réalité par la reconnaissance effective du droit sacré pour les peuples de disposer d’eux- même, le peuple de l’ancien Empire Annam, aujourd’hui Indo-Chine Francaise, présente aux Nobles Gouvernements de l’Entente en général et à l’honorable Gouvernement Francais en particulier les humbles revendications suivantes:

1- Amnistie Générale en faveur de tous les condamnés politiques indigènes
2- Réforme de la justice indochinoise par l’octroi aux Indigènes des mêmes garanties judiciaires qu’aux Européens, et la suppression complète et définitive des Tribunaux d’exception qui sont des instruments de terrorisation et d’oppression contre la partie la plus honnête du peuple Annamite.
3- Liberté de presse et d’opinion.
4- Liberté d’associationet de Réunion
5- Liberté d’émigration et de voyage à l’étranger,
6- Liberté d’enseignement et création dans toutes les provinces des écoles d’enseignements techniques et professionnels à l’usage des indigènes.
7- Remplacement du  Régime des lois
8- Délégation permanente d’indigènes élus auprès du Parlement Francais pour le tenir au courant des désidérata indigènes.

Le peuple Annamite, en présentant des revendications ci-dessus formulées, compte sur la justice mondiale des toutes les Puissances et se recommande en particulier à la bienveillance du Noble Peuple Francais qui tient son sort entre ses mains et qui, La France étant une République, est censée d’avoir pris sous sa protection. En se réclament de la protection du Peuple Francais, Le Peuple Annamite, bien loin de s’humilier, s’honore au contraire; car il sait que le Peuple Francais représente la liberté et la justice, et ne renoncera jamais à son sublime idéal de Fraternité universelle. En conséquence, en écoutant la voix des opprimés, le Peuple Francais fera son devoir envers la France et envers l’Humanité.
Pour le Groupe des Compatriotes Annamites: Nguyễn Ái Quấc

Thỉnh nguyện của dân tộc Annam

Từ khi Đồng Minh thắng trận và các cường quốc long trọng cam kết minh bạch trước thế giới quyết tâm tranh đấu lấy Văn Minh chống lại Hung Tàn, tất cả những dân tộc bị áp bức đều nôn nao hy vọng trước viễn ảnh sẽ được sống trong công bằng và luật pháp.
Trong khi chờ đợi nguyên tắc dân tộc tự quyết từ lý tưởng sang thực tế, bằng sự nhìn nhận thực sự quyền thiêng của mỗi dân tộc tự định đoạt lấy số phận mình; Chúng tôi, Thần dân của Đế quốc An Nam ngày trước, nay là Đông Dương Pháp, trình bày với Cao Quyền Đồng Minh nói chung và Kính Quyền Pháp nói riêng, những thỉnh nguyện khiêm tốn sau đây:

1- Ân xá tất cả tù binh chính trị bản xứ.
2- Cải tổ luật pháp Đông dương, bằng cách bảo đảm cho người bản xứ những điều kiện về luật pháp như người Âu châu. Bỏ hẳn các toà án đặc biệt là những công cụ khủng bố và đàn áp thành phần lương thiện nhất của dân tộc An Nam.
3- Tự do báo chí và tư tưởng.
4- Tự do lập hội và hội họp.
5-Tự do di dân và du lịch ra nước ngoài.
6-Tự do giáo dục và xây dựng những trường kỹ thuật và thực nghiệp tại các tỉnh cho người bản xứ.
7- Thay thế Chế độ pháp lý.
8- Có phái đoàn đại diện thường trực dân biểu bản xứ tại Nghị viện Pháp để thông báo những nguyện vọng của người dân bản xứ.

Dân tộc An Nam, qua những thỉnh nguyện trên đây, tin tưởng ở công pháp quốc tế của các cường quốc và đặc biệt trông cậy vào lòng thành của dân tộc Pháp cao quý, đang cầm vận mệnh của chúng tôi trong tay, nước Pháp là một nước Cộng hoà, cầm bằng như đã bảo hộ chúng tôi. Khi thỉnh cầu sự bảo trợ của Dân tộc Pháp, Dân tộc An Nam, không hề tự hạ mình, mà ngược lại còn lấy làm vinh hạnh, vì họ biết Dân tộc Pháp biểu hiện tự do và công bằng, không bao giờ từ khước lý tưởng cao cả: Tứ hải giai huynh đệ. Vì vậy, khi đáp ứng tiếng kêu của người bị áp bức, Dân tộc Pháp không những làm tròn bổn phận đối với nước Pháp mà còn đối với cả Nhân loại.
Thay mặt nhóm An Nam Yêu Nước – Nguyễn Ái Quấc.
(Thụy Khuê dịch)

Việt Nam yêu cầu ca (trích)

Bằng nay gặp hội Giao-hòa
Cầu rằng các nước Đồng minh
Mấy phen công bố rõ ràng
Việt Nam xưa cũng oai thiêng
Lòng thành tỏ nỗi sút sa
1- Xin tha kẻ đồng bào
2 -Xin phép luột sửa sang
Những toà đặc biệt bất công
3- Xin rộng phép học hành
4- Xin được phép hội hàng
6 – Xin được phép lịch giu
7- Xin hiến pháp ban hành
8- Xin được cử nghị viên
Tám điều cặn kẽ xa gần
Riêng nhờ giân Pháp công bình
Pháp giân nức tiếng xưa nay
Nỡ nào ngảnh mặt ngơ tai.
Giân Nam một giạ ước mơ
Rộng xin giân Pháp xét cho
Gịch mấy chữ quốc âm bầy tỏ
Hoà bình may gặp hồi nầy
Nay gặp hội khải hoàn vũ hạ
Vầy vui chắc đã mười phần
……..
Nguyễn Ái Quấc

Bài thơ còn dài, chúng tôi chỉ trích một phần.

Nguồn: RFI

Mời đọc thêm:

Nhân văn – Giai phẩm: Lê Nguyên Chí là ai?

Phùng Cung – Chương 3: Đường Lâm thi chí, một nền thơ chống chiến tranh và tù ngục

Phùng Cung – Chương 2: Mộ phách – Mồ chôn văn hóa

Nhân Văn Giai Phẩm: Phùng Cung- Chương 1: Tại sao Phùng Cung bị bắt, bị biệt giam không có án?

Nhân Văn Giai Phẩm: Văn Cao

Hoàng Cầm: Nhân Văn Giai Phẩm

Advertisements

2 thoughts on “Nhân Văn Giai Phẩm: Phan Khôi – Chương 1

  1. Pingback: LẠI THÊM MỘT CHUYỆN BỊP CỦA GIÀ DỊCH HỒ CHÍ MINH : TRÌNH ĐỘ TIẾNG P HÁP * NGUYỄN NGỌC QÙY * « BẠN ĐỌC LÀM BÁO

Đã đóng bình luận.