HAI BIẾN CỐ QUAN TRỌNG TRONG “Lịch sử khẩn hoang miền Nam”


Sơn Nam

son namPHỤ LỤC:

Người Pháp cố ý ém nhẹm những rắc rối xảy ra trong việc phân phối đất đai. Thuở ấy, người dân thấp cổ bé miệng chỉ có thể kêu nài và nếu đem phân xử thì người dân không rành luật lệ luôn luôn bị thất kiện.

Hội đồng phái viên đi xét đất gồm toàn là viên chức, thân hào của tỉnh, quận, tổng và làng. Lề lối làm việc của Hội đồng này tuy nói là quan sát tại chỗ, ghi vào biên bản rành mạch nhưng họ chỉ ngồi tại công sở làng, với lính mã tà bảo vệ. Làng mạc ở Hậu giang quá rộng, dầu đủ thiện chí các viên chức cũng khó lội bùn sình, phơi nắng dầm mưa hằng đôi ba cây số dưới ruộng để xem đâu là ranh giới từng sở đất. Trên nguyên tắc, nhà nước Pháp tự hào là dành nhiều dễ dãi cho dân, phát triển chế độ tiểu điền chủ hơn là chế độ đại điền chủ nhưng trong thực tế lại khác.

Dư luận của mọi giới kể cả dư luận của những tay thực dân Pháp đã xúc động khi ở Hậu giang xảy ra hai biến cố quan trọng về quyền sở hữu đất ruộng :

– Vụ Ninh Thạnh Lợi, năm 1927 ở Rạch Giá.

– Vụ Nọc Nạn, năm 1928 ở Bạc Liêu.

Lúc bấy giờ từ những tờ báo thân chánh quyền, ủng hộ thực dân đến báo có xu hướng ôn hòa đều lên tiếng vì những lý do sau đây :

– Nạn nhân là những người chí thú làm ăn, tuyệt nhiên không có những người làm chánh trị xúi dục. Họ chỉ muốn bảo vệ phần đất ruộng mà họ đã khai thác từ lâu.

– Những người phạm tội đã tìm đủ mọi cách để kêu nài trong mức cố gắng tối đa của họ.

– Thành phần xã hội của những bị can là điền chủ lớn hoặc nhỏ, chớ không phải là tá điền hoặc bần cố nông.

– Họ không bao giờ nêu khẩu hiệu chống chế độ thực dân Pháp hoặc đưa yêu sách giùm cho người khác, nhằm mục đích khuấy động thành một phong trào lan rộng.

– Bộ máy đàn áp của thực dân Pháp đã quá sốt sắng, trừng phạt quá đáng thay vì dùng biện pháp ít tốn xương máu hơn. Luật lệ mà thực dân bấy lâu đưa ra về vấn đề khẩn đất chỉ là những cạm bẫy để cho kẻ lương thiện sụp xuống dễ dàng.

Thực dân đành thú nhận sự thiếu sót về mặt nghiên cứu tâm lý dân Việt, cũng như tâm lý người Miên.

Hai vụ Nọc Nạn và Ninh Thạnh Lợi vi phạm đến những nguyên lý thấp nhứt về lòng nhân đạo: Có thể nói là chẳng một ai dám binh vực thái độ của thực dân, mặc dầu đã tán thành ngấm ngầm chế độ ấy trong một mức nào đó. Nhờ báo chí tường thuật và quảng bá tin tức, dư luận xúc động mạnh, các chiến sĩ quốc gia dùng dịp này mà chỉ trích chánh sách của thực dân; ôn hòa như ông Bùi Quang Chiêu mà cũng phải lên tiếng.

Các tài liệu hoặc sách nghiên cứu của người Pháp sau này không dám bỏ quên hai biến cố nói trên nhưng họ chỉ đề cập vắn tắt trong vài hàng, hoặc cố ý giảm thiểu tầm quan trọng.

Nhiều giai thoại được phổ biến truyền khẩu nên hai vụ án trên lần hồi trở thành chuyện truyền kỳ, người thuật lại có thể vô tình hay cố ý thêm thắt chi tiết hoặc sửa đổi nội dung. Chúng tôi thử ghi lại những nét chánh.

VỤ ÁN NINH THẠNH LỢI

Tài liệu căn cản mà chúng tôi sử dụng là bản phúc trình của Thống đốc Nam kỳ Blanchard de la Brosse gởi lên Toàn quyền Đông Dương, đề ngày 28/5/1927.

Làng Ninh Thạnh Lợi (quận Phước Long, tỉnh Rạch Giá) trước kia là vùng đất thấp và phèn, cỏ mọc hoang vu, trên mấy giồng cao ráo thì người Miên đã làm ăn lâu đời. Từ khi đào kinh Quan Lộ – Phụng Hiệp nối Cà Mau đến Ngã Bảy (Cần Thơ), dân tới khai khẩn hai bên bờ ngày càng đông đúc, lập ra quận Phước Long (khi trước làng này thuộc về quận Long Mỹ).

Thời đàng cựu tuy là dùng chánh sách đồng hóa nhưng vua chúa nhà Nguyễn dành cho người Miên ở Nam kỳ nhiều quyền tự trị : đất đai của họ thì họ gìn giữ, thủy lợi (huê lợi cá tôm dưới sông rạch) thuộc về họ hưởng.

Người Pháp lúc mới xâm chiếm đã gặp nhiều sóc Miên khá đông đúc nên vội kết luận là người Việt không có tài “thực dân”, vì những vùng chung quanh xóm Miên hãy còn nguyên vẹn, hoang vu.

Theo luật thông dụng của người Cao Miên từ xưa thì người dân được quyền tự do canh tác nơi nào họ muốn; họ cứ đến cày cấy nơi vùng đất hoang. Nếu có người canh tác từ trước thì phải đợi khi nào đất bỏ hoang trong 3 năm liên tiếp, kẻ khác mới được chiếm hữu.

Luật lệ phiền phức về khẩn đất mà người Pháp ban hành đã làm đảo lộn tình thế. Vài cường hào thừa cơ hội lập bộ mới để chiếm đoạt, lấn đất người Miên nhưng người Việt Nam vẫn thua người Pháp về phương diện này.

Năm 1922, một người Pháp là Beauville-Eynaud dùng thủ đoạn hợp pháp nhưng bịp bợm, cho tay em đứng tên xin khẩn đất trong làng Ninh Thạnh Lợi rồi hắn mua lại những biên lai xin khẩn ấy. Kết quả là hắn trở thành người chủ điền lớn, chiếm đến 9/10 diện tích của làng. Nhưng trước lời thánh oán của dân Miên, tên Eynaud phải trả đất lại, dân làng lúc bấy giờ đã kêu nài tận quan Thống đốc Nam kỳ và Hội đồng Quản hạt.

Nhưng một người xã trưởng (Huê kiều lai) vẫn giữ nhiều thế lực trong làng. Ông ta vốn là tay sai thân tín của tên Beauville-Eynaud chiếm đất dạo nọ. Ngoài ra, xã trưởng này cũng là người thân tín của cai tổng Tr.

Kế hoạch chiếm 9/10 đất đai của làng Ninh Thạnh Lợi đã thất bại. Nhưng lần sau, tiếp tục kế hoạch này là cai tổng Tr.

Viên cai tổng này làm việc chậm rãi và thâm hiểm hơn, cho tay em là xã trưởng làm giấy tờ để trưng khẩn từng sở đất nhỏ, do đó mà một phần đất của ông chủ Chọt bị sứt mẻ.

Ông chủ Chọt bèn kiện viên xã trưởng và thắng kiện. Ông chủ Chọt, người cầm đầu cuộc khởi loạn là điền chủ gốc Tàu lai Miên. Trong làng có tất cả chừng 900 dân đinh, đại đa số là người Miên. Chủ Chọt đứng bộ 300 mẫu đất ruộng, góp địa tô và cho vay ăn lời, mỗi năm thâu ước 15.000 giạ lúa.

Vào đầu tháng 5/1927, chủ Chọ (người Pháp phiên âm là Chok) bắt đầu ra tay.

Hương chức làng lân cận và lính mã tà ở quận lỵ Phước Long cùng chủ điền Pháp đều chú ý đến những cuộc hội họp bất thường, trong đó có chủ Chọt, Mốc (em rể của ông ta) và một người thày bùa tên là Cồ Cui mà nhiều người cho rằng em của chủ Chọt. Họ tụ họp chừng 40 người, làm lễ cúng, phát bùa, khoe rằng hễ đeo vào người là súng bắn không lủng. Bọn tay em mặc quần áo trắng, mấy người lãnh tụ thì mang cờ xí nhiều màu. Họ cử hành liên tiếp nhiều cuộc lễ khác, thay đổi địa điểm trong làng hoặc ở làng giáp ranh, phải chăng với mục đích củng cố tinh thần bọn tay em và thâu nạp thêm người mới ? Mọi việc diễn ra êm thắm, không xúc phạm đến tài sản hay tánh mạng ai cả.

Một biến cố nhỏ lại xảy ra. Khi chủ Chọt và bọn tay em làm lễ trên phần đất đai của đồn điền Mézin (tên thực dân nổi danh về khai thác rừng tràm, gần như độc quyền) thì tên cai điền của Mézin bèn thị oai, cầm súng đưa lên như hăm dọa bắt buộc chủ Chọt phải giải tán (cai điền của Pháp được quyền giữ súng). Bọn chủ Chọt và tay em liền phản ứng ngay, bắt sống bốn người tá điền trên phần đất của Mézin rồi đem về “lãnh thổ” của mình.

Tên cai điền hoảng hốt bèn đánh điện cho chủ tỉnh Rạch Giá mà báo nguy (đây là làng gần quận lỵ). Trong khi đó, chủ Chọt và đồng bọn trở về sào huyệt. Đó là căn nhà lớn của ông ta, hai bên là lẫm lúa và nhà cho bọn làm công ở, ngoài ra còn tích trữ sẵn nào dao mác, nào phãng phát cỏ kéo cổ thẳng trở thành loại gươm bén !

Một cuộc lễ khác diễn ra. Cồ Cui làm phép, cầu khẩn với thần linh. Bấy giờ đạo Cao Đài bắt đầu phát triển đến Hậu giang, hương chức mấy làng lân cận suy luận qua sắc phục trắng của bọn tay em, cho là hình thức giống như đạo Cao Đài. Có lẽ chủ Chọt và đồng bọn muốn lập một tôn giáo mới, thế thôi.

Bức điện tín của người cai điền đến tay chủ tỉnh Rạch Giá vào lúc chủ tỉnh hội thường lệ với các chủ quận. Chủ quận Phước Long và viên cai tổng được lịnh trở về địa phương để xem xét tình hình và ứng phó gấp.

Bấy giờ, tình hình như căng thẳng hơn. Sau cuộc lễ lớn, chủ Chọt bước qua giai đoạn mới: Cho giăng tứ phía một sợi chỉ màu trắng tượng trưng cho ranh giới bất khả xâm phạm, cấm ngặt không cho ai bước qua.

Quan chủ quận Phước Long đi ghe đến công sở làng Ninh Thạnh Lợi vào chiều ngày 6/5/1927. Ông lên bờ, thấy vài người Miên mặc quần áo trắng đứng lãng vãng gần đó. Ông ra lịnh gọi họ lại để hỏi chuyện. Trong công sở cũng còn một vài người Miên nhưng tất cả đều không thèm trả lời và như theo một hiệu lịnh, họ kéo ra, chạy về phía quan chủ quận.

Quan chủ quận hoảng sợ, chạy trở xuống ghe trong khi bọn tay em của chủ Chọt rượt trên bờ và liệng đất theo ghe để khiêu khích.

Hôm sau, ngày 7, theo lịnh quan chủ quận, 2 người lính kín (mật thám), 4 lính mã tà và viên cai tổng cùng đến nơi để tái lập trật tự. Họ mang theo loại súng bắn đạn chài. Khi gặp tay em của chủ Chọt, lính bắn vài phát. Bọn tay em dùng dao mác và phãng mà rượt theo, chẳng ai bị thương cả. Bọn lính mã tà và lính kín hoảng sợ chạy trở về dinh quận để báo động.

Ngay trong đêm ấy, bọn chủ Chọt liền đến bao vây nhà của cai tổng Tr. ở ngã tư Phó Sinh và nhà của viên xã trưởng Ninh Thạnh Lợi ở Cỏ Thum. Viên cai tổng vắng mặt. Họ rút lui, không phá hại gì trong nhà cả. Nhưng mặc dầu không có xã trưởng ở nhà, bọn người hăng máu nọ ra tay hạ sát cha của ông này.

Viên cai tổng và xã trưởng vì quá khôn ngoan nên không dám ngủ nhà, điều này chứng tỏ rằng chủ Chọt hận về chuyện giựt đất.

Uy thế của chủ Chọt càng lẫy lừng, bọn tay em càng tin rằng với bùa phép thì súng bắn không lủng, như lần bị bắn đạn chài hôm trước cho thấy rõ.

Chủ tỉnh Rạch Giá bèn đích thân vào quận Phước Long để đàn áp. Cùng đi với ông ta có viên thanh tra mật thám và một số lính mã tà. Khi đến Phước Long thì đã 8 giờ tối. Và ông ta lại trở về chợ Rạch Giá vào lúc hừng đông hôm sau. Ông ta thấy không nên ở lại Phước Long vì toán quân gồm lính mã tà và tên cò Tây đã bị loạn quân đánh đại bại. Tên cò Bouchet bị thương khá nặng, 3 người lính mã tà thì chết khi lâm trận. Trận này xảy ra trước khi viên chủ tỉnh đến Phước Long vì ông ta đi bằng tàu đò sung công, còn tên cò Bouchet thì lại dùng chiếc tàu khác, mượn của ty Kiểm lâm.

Số là viên cò Bouchet quá khinh địch, khi tàu chạy ngang vùng cấm địa của bọn chủ Chọt thì dừng lại rồi ra lịnh cho chừng 10 tên mã tà mang súng trên vai đến tìm vài tên phiến loạn mà bắt sống làm con tin, để dằn mặt và điều tra. Dọc đường, lính mã tà gặp bọn tay em của chủ Chọt đang nghinh chiến với dao mác. Bọn lính dỗ dành, mời họ đi theo để gặp mặt viên cò Tây mà kêu nài, trình bày nỗi oan ức.

Bọn tay em của chủ Chọt chịu nhận lời nhưng với điều kiện là họ được đi thong thả phía sau, bọn lính phải đi phía trước. Bọn lính chấp thuận và lại khinh địch, mang súng trên vai, đi trước.

Khi còn chừng 100 mét tới công sở (tức là chừng 120 mét thì tới chiếc tàu mà viên cò Tây đang chờ đợi) thì theo hiệu lịnh bằng tiếng Miên, bọn tay em của chủ Chọt xông tới, đâm bọn lính mã tà từ phía sau lưng, khiến chẳng ai đề phòng kịp.

Hai ba người lính mã tà đủ thời giờ nạp đạn bắn trả lại, làm cho đối phương bị thương và chết 6 người. Một viên mã tà và 2 người lính (có lẽ lính kín) bị loạn quân giết tại trận.

Viên cò Bouchet bấy giờ đang đứng trên bờ, thấy chuyện náo động thì hoảng sợ (mặc dầu bên cạnh ông ta còn 15 người mã tà), nên chạy lên tàu trốn vào “ca-bin” riêng. Nhưng một tay em của chủ Chọt lanh tay, giựt cây súng của tên mã tà tử trận (trong ấy có sẵn đạn), bèn nhắm vào viên cò mà bắn gây thương tích trầm trọng. Phát đạn thứ nhì bắn lên tàu trúng tên cai mã tà, gây thương tích. Lại còn một tên lính bị chém đứt 3 ngón tay.

Thế là tàu chạy nhanh để tẩu thoát, bỏ sót lại một tên lính mã tà. Tên này nhảy xuống kinh xáng, lẩn trốn dưới cỏ để rồi lội nước qua bờ bên kia.

Sau này, giới hữu quyền Pháp chê tên cò Bouchet quá vụng về và quá sợ chết. Bấy giờ, trên bờ chỉ có chừng 30 loạn quân với võ khí thô sơ và 3 cây súng mà họ vừa giựt được. Nếu từ trên tàu mà bắn cho kéo tay thì hàng chục người lính còn lại đủ sức giải tán và gây tổn thất nặng cho đối phương, chớ không rút lui một cách thảm bại.

Viên chủ tỉnh gặp toán quân của tên cò Bouchet trên đường về Phước Long. Lính mã tà của chủ tỉnh và của tên cò cộng lại cỡ 30 người, đủ sức trở lại ăn thua với bọn người làm loạn. Nhưng viên chủ tỉnh không làm chuyện đó được vì ông ta “đi tàu đò từ Long Mỹ đến, và chủ tàu này không chịu chạy đến nơi bất an”. Vả lại, chủ tỉnh còn muốn đưa tên cò Bouchet về Sài Gòn để điều trị gấp.

Quả thật là thắng lợi cho phe chủ Chọt về phương diện tâm lý : chủ quận rút lui, chủ tỉnh cũng rút lui, tên cò bị thương… Vì vậy dân trong vùng hoảng sợ, trong một đêm ai nấy vội vã tản cư trong khi chủ Chọt treo bảng ra lịnh không cho bất cứ tàu bè nào qua lại khu vực của ông ta kiểm soát, đồng thời mấy tiệm buôn Huê kiều phải mua bán như thường lệ, bằng không thì sẽ bị phá cửa.

Chủ tỉnh Rạch Giá bèn đánh điện cầu cứu với tỉnh Cần Thơ. Hôm ấy, khi nhận được điện văn là vào lúc xế trưa, các quan ăn lễ kỷ niệm nữ anh hùng Jeanne d’Arc. Chủ tỉnh Cần Thơ nghỉ phép, vắng mặt. Phó chủ tỉnh bèn ra lịnh cho trung úy cảnh sát tên là Turcot tức tốc qua Rạch Giá với 30 lính mã tà của tỉnh Cần Thơ.

Họ đi xe hơi tới Long Mỹ. Nơi đây, trung úy Turcot gặp viên Thanh tra Lao động từ Sài Gòn đến. Viên Thanh tra này biết nói rành tiếng Miên. Khi bàn chuyện bạo động ở Ninh Thạnh Lợi, viên Thanh tra này hỏi về cách ứng phó sẽ áp dụng thì Turcot bảo rằng khi đến nơi sẽ bắt bọn làm loạn, nếu bọn này chống lại thì lính mã tà sẽ dùng súng đạn, không cần dè dặt.

Toán lính của trung úy Turcot đến, tấn công ngay vào sào huyệt. Lẽ dĩ nhiên, chẳng một ai chịu ra đầu hàng khi viên trung úy ra lịnh.

Súng nổ, bọn tay em của chủ Chọt chống cự hăng hái, họ dùng khí giới bén và bốn khẩu súng giựt được của lính mã tà hôm trước. Họ bắn tất cả 80 viên đạn, tức là đến viên đạn cuối cùng. Bên chủ Chọt, 14 người chết tại trận, gồm chủ Chọt, tên thày bùa và con gái của chủ Chọt. Cô gái này đứng hàng đầu, xung phong khi nghinh chiến. Ngoài ra còn khoảng 20 người bị thương, bị bắt giam.

Tài liệu không nói rõ bên lính mã tà tổn thất ra sao (theo lời thuật lại sau này của người địa phương thì lính mã tà bị thương khá đông, nhưng nhẹ thôi).

Những người thuộc phe chủ Chọt, luôn cả chủ Chọt được chôn vào địa điểm mà đến nay người địa phương còn gọi là “mả chủ Chọt” ở giữa ruộng (đến vùng Phước Long hỏi ai cũng biết).

Quan Thống đốc Blanchard de la Brosse chứng minh rằng cuộc thảm sát xảy ra là tất yếu, không có cách nào khác hơn (ông ta muốn binh vực bọn thuộc hạ) nhưng nhìn nhận rằng tên cò Bouchet bị thương lần trước và bọn lính mã tà đều quá dở.

Người địa phương thì “khen ngợi” viên xã trưởng, thầy cai tổng và quan chủ quận Phước Long là khôn ngoan và am hiểu tình hình: Thà rằng trốn hoặc rút lui còn hơn là xông pha vào vòng giáo mác. Khôn ngoan nhứt là viên chủ tỉnh Rạch Giá đã rút lui về chợ mà ở cho yên thân, để rồi chụp mũ, cho cuộc khởi loạn có tánh cách chống Pháp. Chủ quận và hương chức làng Ninh Thạnh Lợi cũng muốn chụp mũ như vậy để khỏi gánh trách nhiệm về những bất công mà họ đã gây ra.

Quan Thống đốc không đồng ý rằng cuộc khởi loạn nhằm mục đích lật đổ ách thực dân Pháp, vì người Miên ở các vùng phụ cận tuyệt nhiên không hay biết. Chủ Chọt không ngu dại gì mà cử đồ đại sự với lực lượng vỏn vẹn 40 người.

Lập luận thứ nhì, do một số đông báo chí Pháp ngữ đưa ra, lại thiên về “khảo cứu chủng tộc”: Người Miên vào mùa nắng thường nổi cơn “say máu ngà” giống như trường hợp người Mã Lai say nắng, nổi cơn khùng (kêu là Amok) trở nên cuồng dại, hung hăng bất cần thực tế, lý trí kiểm soát không được hành động. Chẳng qua là dân ở Ninh Thạnh Lợi chưa được khai hóa, còn manh tánh chất thời cổ sơ của chủng tộc “Ấn Độ-Mã Lai”. Họ bảo rằng đây là vấn đề bịnh thần kinh, thuộc về y học !

Lập luận thứ ba, của báo chí Việt ngữ ở Sài Gòn lúc bấy giờ, cho đây là cuộc khủng hoảng của chánh sách điền địa bất công do người Pháp bày ra; viên chức địa phương tham nhũng, giành đất của dân.

Tuy không nói rõ rệt mình theo lập luận nào nhưng quan Thống đốc Nam kỳ lại trình bày với quan Toàn quyền rằng theo ông ta thì “lịch sử của các tỉnh miền Tây Nam kỳ trùng hợp với lịch sử của cách tổ chức về quyền tư hữu ruộng đất, và sự phản ứng của dân bản xứ, của người Miên đối với quy chế về đất đai (mà chánh phủ sắp đặt cho họ)”. Rốt cuộc, quan Thống đốc chứng minh rằng mục tiêu đầu tiên của chủ Chọt chỉ là ăn thua với cường hào địa phương (xã trưởng và cai tổng) vì hai cá nhân này lấn đất của ông ta. Đây không phải là vụ khởi loạn có tính chất chính trị nhưng là một vụ thường phạm.

Tuy nhiên, vẫn theo ý kiến của viên Thống đốc này, chánh phủ nên chú ý hơn đến các sốc Miên hẻo lánh ở miền Tây. Ông ta cũng hứa với quan Toàn quyền là sẽ cứu xét với tinh thần rộng rãi một số nguyện vọng của người Miên, như việc đóng thuế, quy chế miễn đi lính cho sư vãi, đồng thời thử nghiên cứu việc tách ra vài vùng đất ruộng dành đặc biệt cho người Miên làm chủ. Và sẽ cứu xét một cách công bình những vụ khiếu nại về ruộng đất ở làng Ninh Thạnh Lợi.

Ít ra, giặc chủ Chọt cũng làm cho thực dân Pháp và cường hào giựt mình trong nhiều năm.

  *

*  *

noc nan 1

KHU DI TÍCH LỊCH SỬ NỌC NẠN được xếp hạng là Di tích Lịch sử quốc gia năm 1991

VỤ ÁN NỌC NẠN

Cánh đồng Nọc Nạn thuộc làng Phong Thạnh, quận Giá Lai, tỉnh Bạc Liêu thời Pháp thuộc.

Về nguồn gốc của hai tiếng Nọc Nạn thì chưa ai giải thích thỏa đáng, hoặc là nơi đây đất thấp, dân muốn cất nhà thì phải xốc nạn theo kiểu nhà sàn. Hoặc là tiếng Miên, nói trại lại.

Cánh đồng này nằm trên đường Bạc Liêu, Cà Mau, với con rạch Nọn Nạn. Vùng này đất cao ráo và tốt.

Những chiến sĩ quốc gia bấy giờ lên tiếng và theo dõi vì đây là cuộc tranh đấu giữa người tiểu điền chủ chống cường hào, để giữ lại phần tư hữu tài sản mà chính ông bà họ đã tạo ra. Không có gì chứng minh rằng họ hành động vì có người xui giục để khuấy động trong địa phương.

Cuộc tranh đấu xảy ra chỉ vì cường hào địa phương được che chở bằng những luật lệ quanh co và phức tạp của thực dân Pháp.

Nhiều giai thoại truyền khẩu vẫn còn được nhắc nhở, chi tiết lần hồi có thể sai lạc. Chúng tôi căn cứ vào hai nguồn tài liệu căn bản :

– Bài vè Nọc Nạn do tác giả vô danh được truyền tụng, lời lẽ mộc mạc, chi tiết khá cụ thể, lưu hành từ những năm 1930, 1931.

– Loạt bài do ký giả Lê Trung Nghĩa (tự Việt Nam) đăng trên báo La Tribune Indochinoise do Bùi Quang Chiêu làm chủ nhiệm. Bấy giờ, Bùi Quang Chiêu là chiến sĩ quốc gia tiến bộ. Ký giả Lê Trung Nghĩa là người gốc ở Phong Thạnh, chuyển xảy ra tại quê quán nên ông hiểu rõ và đến địa phương nhiều lần, giúp gia đình nạn nhân bằng mọi cách, khác hơn trường hợp một vài ký giả khác chỉ tường thuật đại khái để bán báo.

Báo La Tribune Indochinoise từ ngày 17/8/1928 đến 24/8/1928 đặc biệt dành cho vụ án này với những bài chiếm trọn cả trang nhứt; những số trước đó cũng đã nhắc nhở từng chập.

TƯỢNG ĐÀI NỌC NẠN

TƯỢNG ĐÀI NỌC NẠN

Bài vè Nọc Nạn chúng tôi không sưu tầm được phần sau, nên ghi phần đầu mà thôi :

Trời Nam thiên hạ thái bình,

Kẻ lo nông nghiệp người gìn bán buôn.

Ngàn năm gió thuận mưa tuôn,

Lúa thì một giạ, giá thì đồng hai.

Nhân dân ai nấy mừng thay,

Rủ đi làm mướn giá rày đặng cao.

Dưới sông, ca-nốt, đò, tàu,

Lộ thì xe chạy, trước thì khách thương…

… Lục tỉnh có hạt Ba Xuyên,

Bạc Liêu chữ đặt, bình yên dân rày.

Mậu Thìn vốn thiệt năm nay,

Một ngàn hai tám, tiếng rày nói vang.

Phong Thạnh vốn thiệt tên làng,

Giá Rai là quận, chợ làng kêu chung.

Anh em Mười Chức công khùng,

Bị tranh điền thổ, rùng rùng thác oan.

Hăm lăm tháng Chạp rõ ràng,

Lúc bảy giờ sáng xe quan đến liền.

Chợ đông đương nhóm tự nhiên,

Thấy cò lính lại, người liền đến coi.

Thuốc đạn, súng ống hẳn hoi,

Hai cò bảo lính: “Đòi làng đến đây.

Có trát biện lý bằng nay,

Sai ta xuống rày, đong lúa đương tranh !

Thị Trân là vợ huyện Lành,

Lãnh án đành rành mướn bọn ta đi.

Biện Toại nhà ở chốn ni ?

Làng phải dẫn lộ ta đi đến liền”.

Hai cò bước xuống đò nghiêng,

Bảo làng với lính đi liên một đò.

Phong Thạnh hương quản tên Cho,

Ngồi trước mũi đò, bàn luận gần xa :

“Xuống đây, ắt bọn nó ra,

Dữ lành chưa biết việc mà làm sao ?”

Nước ròng đò xuống đi mau,

Tám giờ đã tới lao xao lên liền.

Cò bảo lính đứng liên liên,

Còn làng phải đứng ra riêng một hàng.

Trong nhà Mười Chức luận bàn,

Than cùng từ mẫu hai hàng lâm ly :

“Dầu con thác xuống âm ti…

  *

*  *

Về những bài báo do Lê Trung Nghĩa viết, chúng tôi sử dụng với sự dè dặt. Bấy giờ có những sự thật mà ký giả biết rõ nhưng không thể viết ra được, vì là cuộc vận động công khai trên báo chí để cứu nạn nhân.

Lời khai trước tòa án của những nhân chứng hoặc của người trong cuộc phải được hiểu qua khía cạnh riêng: Lắm khi, họ phủ nhận sự thật vì sự thật ấy bất lợi cho họ trước tòa, hoặc họ biết nhưng lại khai rằng không biết, chưa kể đến những người làm chứng bị mua chuộc bằng tiền bạc.

Trước năm 1900, một nông phu đến khai phá rừng ở rạch Nọc Nạn trên diện tích non 73 mẫu tây. Năm 1908, ông này chết để lại cho con là Hương chánh Luông. Đất thì rộng, sức người và vốn liếng có hạn, năm 1910, anh em Hương chánh Luông bắt đầu làm việc tích cực hơn. Đất khai phá phải trải qua hai ba năm đầu không có huê lợi vì cây cỏ còn nhiều, nào gốc cây, nào đất trũng quá thấp, nạn chuột bọ, heo rừng. Lúc bắt đầu khai phá thì vùng này hoang vu, thưa thớt dân cư, chẳng thấy ai đến tranh giành cả. Tỉnh Bạc Liêu hẻo lánh, việc đo đạc ruộng đất để lập bộ rất chậm trễ so với các tỉnh miền trên.

Năm 1910, Hương chánh Luông làm đơn xin khẩn chánh thức 20 mẫu và chịu đóng thuế trên diện tích này. Đơn ấy được chấp thuận và được cấp biên lai.

Năm 1912, họ làm ruộng thêm trên khoảnh đất ấy, canh tác trọn và xin rước kinh lý (trường tiền) đến đo đạc theo luật định, để xin bằng khoán chính thức. Viên trường tiền tên là Arboratie đến đo đạc, làm phúc trình và chủ tỉnh Bạc Liêu trao cho ông Hương chánh Luông bản đồ phần đất nói trên.

Năm 1916, một người tên là Tăng Văn Đ. đứng ra tranh cản, viện lý do phần đất mà Hương chánh Luông và gia đình đang canh tác là công lao của y một phần nào. Tăng Văn Đ. được chủ tỉnh đòi đến xử và thất kiện. Tuy nhiên, viên chủ tỉnh lại cho Tăng Văn Đ. một sở đất nhỏ, cắt ra từ phần đất của ông Hương chánh Luông.

Phần đất của ông Hương chánh Luông gồm 72,95 mẫu, bị cắt cho Đ. bốn mẫu rưỡi tức là chỉ còn lại 68,45 mẫu mà thôi. Để giải quyết vụ này, viên chủ tỉnh nói trên cấp cho Hương chánh Luông một tờ bằng khoán tạm, số 303 đề ngày 7/8/1916.

Ông Hương chánh Luông mất. Biện Toại là con trai lớn của gia đình và các em đành nhường nhịn và chấp nhận, mặc dầu đất của tổ phụ để lại mất hết 4 mẫu rưỡi. Nên nhớ rằng bằng khoán cấp cho Biện Toại là bằng khoán tạm.

Tưởng rằng công việc canh tác được yên ổn, dè đâu năm 1917 xảy ra một biến cố khác : sự can thiệp của một người Huê kiều giàu khét tiếng trong tỉnh: ông Bang Tắc, tên thật là Mã Ngân. Ông bang này muốn khẩn đất bằng con đường quanh co nhưng hữu hiệu, ông ta rành luật lệ và biết rõ những sơ hở.

Số là giáp ranh với phần đất của gia đình Hương chánh Luông do Biện Toại là con trai đứng thay mặt, có phần khác do Phan Văn Được làm chủ. Sau khi chết, đất của Phan Văn Được để lại cho vợ hưởng, người vợ này tên Nguyễn Thị Dương. Ông Bang Tắc (Mã Ngân) chú ý nhiều vào phần đất của Nguyễn Thị Dương, đến gặp bà này mà trả giá và tìm đến hương chức làng Phong Thạnh để xem xét lại kỹ.

Hương chức làng Phong Thạnh tiết lộ rằng phần đất của anh em Biện Toại, giáp ranh với phần đất của Nguyễn Thị Dương đã khai thác xong nhưng chưa có bằng khoán chính thức.

Là người rành luật lệ, ông Bang làm giấy tờ mua đất, cho thêm bà Dương chút ít tiền để trong tờ bán đất ghi rằng “bán phần đất với ranh giới bao trùm luôn khoảnh đất mà anh em Biện Toại đang khai thác”.

Lập tức, ông Bang Tắc tìm cách hăm he, cho anh em Biện Toại biết rằng đất mà họ đang canh tác là của ông ta, vì ông ta đã mua lại của bà Nguyễn Thị Dương rồi. Lẽ dĩ nhiên, anh em Biện Toại phản ứng ngay, tìm cách kêu nài lên quan trên rằng bà Nguyễn Thị Dương đã bán phần đất mà họ đã có bằng khoán tạm cho Bang Tắc, và Bang Tắc đã lấn đất.

Đơn đã gởi bốn lần đến chủ tỉnh Bạc Liêu và bốn lần lên Thống đốc Nam kỳ, luôn cả quan Toàn quyền Đông Dương để kêu nài. Nhưng việc khác lại xảy ra.

Năm 1919, Bang Tắc lại xúi dục tá điền của ông ta xông qua phần đất của anh em Biện Toại, đốt một căn chòi ruộng và giết một con trâu để dằn mặt. Nhưng anh em Biện Toại vẫn không nao núng, tin nơi công lý.

Bấy giờ, chủ quận ở Giá Rai là ông phủ H. Theo lời tự thuật của quan phủ này thì khi đến trấn nhậm tại Giá Rai, hay tin có cuộc tranh chấp giữa ông Bang Tắc và anh em Biện Toại, ông ta đã đòi ông Bang Tắc tới để phân xử, đề nghị với ông Bang là nên nhân nhượng chia đất ra hai phần đồng đều, ông bang phân nửa, anh em Biện Toại phân nửa (như vậy là trong thực tế, ông bang đã lấn thêm một phần đất đôi chục mẫu).

Quan phủ H. cũng phân trần rằng chính ông đã nhờ hương cả trong làng để đưa đề nghị ấy với anh em Biện Toại, nhưng anh em ông này không chấp nhận sự chia hai đồng đều ấy.

Trong vụ án Nọc Nạn, dư luận đã đổ lỗi cho quan phủ H.

Phải chăng quan phủ này nhận số tiền của ông bang nên đưa đề nghị này ? Nếu là người vô tư, tại sao ông không mời anh em Biện Toại đến dinh quận để phân giải mà chỉ mời có một mình ông bang ? Quan phủ thanh minh với dư luận như vậy thì ta tạm tin như vậy.

Cũng năm ấy (1919), quan phủ H. được làm chủ Tịch Hội đồng phái viên để xác nhận sở hữu chủ của từng sở đất ở làng Phong Thạnh với diện tích chính xác, ranh giới, để chánh thức cấp bằng khoán.

Mặc dầu anh em Biện Toại khiếu nại nhưng với thế lực của ông bang, với sự hậu thuẫn của một số người, phần đất của anh em Biện toại lại bị chính thức xem như là đất của ông Bang Tắc. Về sau, ra trước tòa đại hình, Biện Toại vẫn cả quyết đây là vụ ăn hối lộ, luôn cả viên họa đồ là Roussotte cũng ăn vì thoạt tiên, khi đo đạc tên Pháp này cho rằng đất ấy là của Biện Toại, nhưng khi đã nhận tiền của Bang Tắc, hắn nói ngược lại đó là của Bang Tắc.

Mặc dầu vậy, anh em Biện Toại vẫn cương quyết chống đối. Đất đã mất rồi, họ ở đó mà chờ… đèn công lý của thực dân Pháp !

Bang Tắc cứ tiếp tục lo hợp thức hóa phần đất chiếm cứ mà Hội đồng phái viên (có ông phủ H. làm chủ tịch) xác nhận là của chính bà Nguyễn Thị Dương ưu tiên khai khẩn rồi bán lại cho ông ta. Ngày 13/4/1926, Thống đốc Nam kỳ ký nghị định bán thuận mãi sở đất 50 mẫu với giá 5000 đồng cho Mã Ngân (tên thật của Bang Tắc).

Bang Tắc cứ hăm dọa, buộc anh em Biện Toại đong lúa ruộng vì với nghị định trên và với tờ bằng khoán chính thức, anh em Biện Toại đã trở thành tá điền trên phần đất của họ.

Anh em Biện Toại chống đối ra mặt. Bang Tắc không dám làm to chuyện vì ông ta đã từng dính líu vào vài chuyện rắc rối về pháp lý, nếu sanh sự thêm thì nhà nước thực dân lúc bấy giờ có thể dùng luật lệ mà trục xuất ông ta về Tàu, cộng với mấy tội trạng trước. Ông ta nghĩ ra một biện pháp rất có lợi và rất ôn hòa để thắng đối phương. Ông ta bán sở đất trên cho một bà rất có uy thế : bà Hà Thị Tr., mẹ vợ của người anh ông phủ H. (vì vậy mà sau này, dư luận cho rằng vụ giựt đất là do phủ H. tiếp tay với Bang Tắc một cách đắc lực). bà này mua xong, bèn đòi thâu địa tô trên phần đất mà anh em Biện Toàn đang canh tác.

Ngày 6/12/1927, bà Tr. xin được một án lịnh của tòa cho phép tịch thâu tại chỗ tất cả lúa mà anh em Biện Toại gặt được. Anh em Biện Toại nghe tin ấy, bắt đầu lo sợ.

Ngày 13/2/1928, lính mã tà tới gặp anh em Biện Toại để thi hành lịnh thâu lúa, anh em Biện Toại kháng cự.

Ngày 14, tức là ngày hôm sau, lính mã tà lại vô lần thứ nhì. Anh em Biện Toại cũng chống cự, lính mã tà lại rút lui.

Ngay trong đêm ấy, anh em Biện Toại đoán chắng rằng ngày mai, lính mã tà sẽ đến với lực lượng đông đảo và thái độ cứng rắn hơn vì là lần thứ ba, sau hai lần cảnh cáo.

Anh em trong gia đình tụ họp lại, làm lễ lạy ông bà. Mẹ là bà Hương chánh Luông cũng được mời ngồi để các con lạy, gọi là báo hiếu lần chót. Anh em bèn trích huyết vào cái tô, thề ăn thua, không sợ chết. Để thi hành kế hoạch, anh em bày ra chuyện bắt thăm để nhờ vong linh ông bà chỉ định ai là người đứng ra hy sinh đầu tiên. Lần thứ nhứt, đứa em gái tên Trọng lại rút nhằm thăm. Anh em không muốn thấy đứa em gái lại đảm nhận sự hy sinh quá lớn lao nên đồng ý là cho bắt thăm lần thứ nhì.

Và lần thứ nhì này, cũng cô Trọng được lá thăm ấy. Cô Trọng bình tĩnh đứng dậy, bảo các anh :

– Ông bà đã dạy, em xin liều chết !

Nên nhớ một chi tiết : Trước đó, khi được án tòa và thấy thái độ quá cứng rắn của anh em Biện Toại, hương chức làng tự ý bắt giam 24 giờ bà Hương chánh Luông để hăm dọa. Biện Toại vì thương mẹ nên hứa sự không chống cự. Nhờ đó, bà Hương chánh được về nhà để các con lạy lần chót.

Lúc đến công sở, thái độ của Biện Toại rất buồn rầu.

Lại còn một chi tiết khác: thày Hương thân trong làng đã mướn người gặt lúa của anh em Biện Toại, vì lịnh tịch thâu đưa tới nhằm lúc lúa chín. Mười Chức, em Biện Toại đã xin phép vị Hương thân để được tự mình gặt lúa nhưng vị Hương thân từ chối, hồ nghi rằng nhân cơ hội ấy Mười Chức có thể giấu bớt lúa. Khi ra tòa, viên Chưởng lý thắc mắc : tại sao số lúa mà hương chức làng mướn gặt chỉ có 2.080 giạ thay vì 3.500 giạ như phỏng định ? Phải chăng hương chức làng đã lén ăn cắp bớt số lúa này để xài riêng ? Và nếu lúa gặt được nhiều, sau khi đong lúa ruộng theo án lịnh tòa mà còn dư lại đủ ăn trong mấy tháng đầu năm thì anh em Biện Toại chưa ắt tuyệt vọng đến mức, để rồi thảm trạng lại xảy ra !

Biện Toại sống với mẹ và các em trong đại gia đình, số lúa thu hoạch chia ra vẫn là ít. Ở xứ Bạc Liêu, mỗi năm gia đình nào cũng phải dư nhiều lúa để bán mà sắm quần áo, thuốc men, chớ không như ở Tiền giang chỉ cần đủ lúa ăn, còn bao nhiêu món khác trong gia đình đều mua sắm nhờ hoa màu phụ như vườn dừa, chuối, hoặc chăn nuôi.

Thảm trạng xảy ra vào sáng ngày 16/2/1928. Tìm lại sự thật, nhứt là các chi tiết thì hơi khó khăn. Lính mã tà thì cương quyết đổ tội cho đám anh em Biện Toại (trong giấy thuế thân, ghi sai là Tại). Những nạn nhân trong cuộc thì muốn chứng minh rằng họ chỉ tự vệ. Một số người trong cuộc đã chết, nếu còn sống thì họ sẽ đưa ra nhiều bằng chứng khác.

noc nan 3

Đại khái, những nét lớn như sau :

Khoảng 7 giờ sáng, hai tên cò Tây là Tournier và Bouzou cùng bốn người lính mã tà từ Bạc Liêu đến Phong Thạnh để tiếp tay với hương chức làng mà thi hành lịnh án của tòa, đong số lúa hiện ở trên phần đất của anh em Biện Toại. Hai viên cò này tưởng là chuyện thông thường, họ không được cho biết là sẽ gặp khó khăn.

Tên cò Tournier vừa mua được cây súng săn nên đem theo, dọc đường anh ta còn lạc quan, bắn thử một phát chết một con cò. Cùng đi với họ đến đống lúa có hương thân, hương hào và hương quản làng sở tại;

Anh em của Biện Toại cất nhà rải rác hơi xa nhau, sát bờ rạch. Đống lúa thì ở ngoài ruộng, cách nhà họ chừng 500 thước.

Dọc đường, khi đi ngang qua nhà Biện Toại, hương hào kêu réo để mời chứng kiến việc đong lúa nhưng không ai trả lời. Nhà cứ đóng cửa. Lập tức, hương hào bèn đến nhà Biện Toại và đến nhà bà mẹ là bà Hương chánh. Chẳng ai chịu đến cả.

Đến gần đống lúa, tên cò Tournier yêu cầu hương chức làng phải mời một người trong gia đình, thí dụ như một người em của Biện Toại đến chứng kiến việc đong lúa.

Mười lăm phút sau, một cô gái đi ra, hướng về đống lúa : cô Nguyễn Thị Trọng, em của Biện Toại. Theo sau là đứa cháu gái của Trọng, đứa bé này tên là Tư, 14 tuổi.

Thoạt tiên, tên cò Tournier đuổi cô Trọng, bảo rằng con gái còn nhỏ làm sao hiểu đầu đuôi cuộc tranh chấp đất ruộng này được ! Viên cò nói là đến đây để trợ giúp hương chức làng đong số lúa theo lịnh tòa.

Cô Trọng phản đối bằng lời lẽ khẳng khái, trong đó có câu “Chết sống ở đây”. Viên đội mã tà thông dịch lại. Tên cò Tounier ra lịnh đuổi lần thứ nhứt. Cô Trọng cứ đứng đó, yêu cầu khi đong lúa xong thì hương chức phải giao cho cô một giấy biên nhận ghi rõ bao nhiêu giạ.

Tournier trả lời rằng không có chuyện trao biên nhận. Rồi thì Tournier tát tai cô Trọng.

Cô Trọng rút trong áo ra một cây dao nhỏ, loại dao có miếng sặt chận ở trước cán. Cò Tournier đập một báng súng khiến cô té xỉu. Cò Bouzou bèn tiếp tay, giựt cây dao của cô, và Bouzou lại vụng về khiến lưỡi dao đâm tay ông ta một vết xoàng không đáng kể. Rồi thì lính mã tà trói cô Trọng để đó.

Đứa cháu nãy giờ đứng ở ngoài xa, khi thấy cô Trọng ngã gục và bị trói, bèn chạy về nhà, báo động.

noc nan 4

Từ trong xóm nhà, anh em Biện Toại chạy ra, mang theo nào là dao mác, gậy gộc. Họ chia ra hai tốp. Tốp thứ nhứt do Mười Chức, em ruột Biện Toại cầm đầu; tốp thứ nhì do thị Nghĩa, vợ Mười Chức cầm đầu.

Tên cò Tournier ra lịnh cho bọn lính chuẩn bị ứng phó. Tournier bảo một tên lính ra lịnh cho Mười Chức đừng dùng vũ khí.

Mười Chức chạy đến quá gần, cò Tournier bèn bắn chỉ thiên một phát. Nhưng Mười Chức cứ tiến tới và tên cò lại nhắm ngay Mười Chức mà bắn.

Tuy bị thương rất nặng, Mười Chức vẫn cầm mắc gượng nhào tới, đâm trúng bụng tên Tournier, rồi cả hai đều ngã xuống.

Anh em của Mười Chức tấn công bọn lính mã tà và tên cò Bouzou. Cò Bouzou rút súng lục, bắn làm bị thương nặng bốn người. Cò Tournier tuy bị thương nặng nhưng cũng bò lết lại gần cò Bouzou. Vì bắn không còn một viên đạn, Bouzou bèn giựt khẩu súng lục của Tournier mà bắn tiếp. Một số người bị thương, bị chết. Miều là em rể của Biện Toại giựt được khẩu súng mút-cơ-tông của Bouzou. Với khẩu súng ấy, Miều chạy ra xa bắn về phía bọn lính mã tà nhưng không gây thương tích cho ai. Lính mã tà cũng rút lui một lượt.

Nhân viên công lực đến điều tra, được biết trong số người “làm loạn” có 5 người đàn ông, 2 người đàn bà và 3 người đàn bà khác không biết tên.

Ngay buổi sáng hôm ấy, Mười Chức và vợ (tên Nghĩa) đều chết, luôn cả người anh tên Nhẫn cũng chết.

Nhịn (trong giấy thuế ghi sai là Nhịnh, anh của Mười Chức), Liễu (em gái của Mười Chức) đều bị thương nặng, được đưa tới nhà thương. Liễu còn sống. Ba ngày sau, Nhịn chết. Tóm lại, về phía gia đình Biện Toại thì có 4 người chết (ba đứa em ruột và một người em dâu là vợ Mười Chức). Nên chú ý là vợ Mười Chức đang mang thai. Bài vè Nọn Nạn ở đoạn chót kể lại với giọng trầm hùng là “Nămngười đổi một thằng Tây” tức là kể luôn đứa hài nhi còn trong bụng mẹ.

Về phía đối phương, chỉ có tên cò Tournier chết ngày 17, khi nằm ở nhà thương Bạc Liêu.

Bọn hương chức hội tề đã nhanh chân bôn tẩu từ khi thấy tình hình quá căng thẳng.

Cô Trọng bị bắt. Biện Toại với con trai là Tía thì ra chợ Bạc Liêu với khẩu súng mà Miều đã giựt được. Ông Biện nộp súng và thưa với nhà nước về chuyện các em bị cò Tây giết. Ông Biện và đứa con bị bắt luôn. Miều thì hôm sau bị bắt. Còn một người duy nhất trốn thoát là Dậu.

Hoàn cảnh của bà Hương chánh Luông thật đáng thương hại : các con của bà đều bị chết, không chết thì bị bắt. Bà ở nhà một mình.

Báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ đua nhau khai thác vụ Nọc Nạn.

Ký giả xuống tận nơi điều tra. Dư luận từ mọi giới, luôn cả giới thực dân đều thuận lợi cho gia đình Biện Toại.

Họ bị áp bức quá lộ liễu, họ là tiểu điền chủ siêng năng nhưng bọn cường nào cấu kết với quan lại tham nhũng đã đưa họ vào đường cùng. Hơn nữa, bấy giờ phong trào quốc gia đang sôi nổi, xu hướng chống thực dân lan tràn, đám táng cụ Phan Chu Trinh vừa xảy ra vào hai năm trước (1926).

Đảng Lập Hiến ra đời, thủ lãnh là ông Bùi Quang Chiêu còn đang hăng hái. Tuy là theo chủ trương Pháp-Việt đề huề, ông cũng cố gắng làm một chuyện xây dựng mặc dầu ông phủ H. nối giáo cho Bang Tắc, là người của đảng ông. Ngoài ra, còn sự giúp đỡ tận tình của ký giả Lê Trung Nghĩa là cây bút phóng sự của tờ “La Tribune Indochinoise” do chính Bùi Quang Chiêu chủ trương.

Trong giới trí thức Pháp, nhiều người tiến bộ đã bực mình vì biến cố Nọc Nạn. Ký giả Lê Trung Nghĩa nhờ hai luật sư rất tận tâm là Tricon và Zévaco biện hộ cho gia đình nạn nhân, cãi không ăn tiền. Người có chút lý trí phải nhận rằng anh em Biện Toại chẳng mảy may gì thù oán cá nhân tên cò Tournier cả.

Tòa Đại hình Cần Thơ xửa vụ án này vào ngày 17/8/1928. Ông Rozario ngồi chánh án, công tố viên là Moreau. Ông Moreau này khá tốt và công bình. Ngoài ra còn một ông Hội thẩm là ông Sự, rất tốt.

Người Pháp đứng trước tình thế gay go.

Mặc nhiên, họ đem ra xử những hậu quả của luật lệ bất công do chính họ ban hành, tức là họ xử cái chế độ của họ. Tha bổng tất cả nạn nhân thì không được, nhưng lên án thì lên án làm sao ?

Chuyện này cả nước đều hay biết.

Trừ báo “La Dépêche l’ Indochine” ra thì tất cả báo chí Sài Gòn đều có mặt, theo dõi phiên tòa : báo “L’Echo Annamite”, “Đông Pháp thời báo”, “L’Impartial”, “L’Opinion”, “Le Courrier Saigonnais”, “Le Phare”, “La Tribune Indochinoise”.

Tòa tuyên án như sau : Biện Toại, Nguyễn Thị Liễu (em út của Toại) và Tia (con trai của Toại) được tha bổng. Cô Nguyễn Thị Trọng, 6 tháng tù (nhưng đã bị giam sáu tháng rồi). Miều, chồng của Liễu (em rể của Biện Toại) : 2 năm tù vì có tiền án ăn trộm.

Đây là bản án rất nhẹ, so với những bản án khác thời thực dân.

Qua lời khai của can phạm và những người làm chứng, chúng ta biết thêm những chi tiết quan trọng sau đây :

– Từ năm 1910, Biện Toại đã vào đơn xin trưng khẩn phần đất mà về sau xảy ra tranh chấp. Bấy giờ, chủ tỉnh có cấp cho biên lai. Nhưng biên lai ấy bị ăn cướp đánh lấy mất, Toại làm đơn xin bổn nhì. Điều rất lạ là bộ sổ ghi đơn xin khẩn đất ở Bạc Liêu vào năm ấy lại bị mất. Ai làm mất ? Phải chăng là sự cố ý đánh cắp, thủ tiêu hồ sơ trong văn khố cũ, để cường hào tha hồ tung hoành ! Viên chức ở tòa bố Bạc Liêu lúc vụ án xảy ra là ông phủ Tâm. Nhưng ông này xác nhận rằng tài liệu cũ bị đánh cắp từ lâu rồi, trước khi ông nhận chức.

– Ông hội thẩm Sự đã nhấn mạnh cho tòa nhớ rằng tiếng Việt khó dịch, thí dụ như mấy tiếng “Chết sống ở đây” mà cô Trọng trả lời với tên cò Tournier. Nếu viên đội thông dịch sai thì viên cò có thể nổi giận. “Chết sống ở đây” có hai nghĩa. Một là “Dầu chết hay sống, tôi vẫn đứng tại đây, đuổi tôi, tôi không đi đâu hết”. Hai là “Mạng đổi mạng tại đây”.

– Hương thân Hồ Văn Hi xác nhận rằng tên cò Tournier bắn trước, sau đó Mười Chức mới đâm tên cò. Chi tiết này xác nhận lời đồng bào địa phương đồn đãi cho rằng Mười Chức là người đầy đủ tiết tháo và chí khí anh hùng : Bị đạn rồi, nhưng còn đủ thần lực và bình tĩnh để ngã về phía trước mà đâm kẻ thù cho bằng được, đâm rất trúng, rồi mới chịu chết vì bị thương quá nặng !

– Công tố viên Moreau lưu ý với tòa : Có thể là viên thơ ký lãnh trách nhiệm ghi nhận đơn xin khẩn đất hồi năm 1910 đã trao cho Biện Toại một biên lai nhưng không có đánh số, với dụng ý dành phần đất ấy cho người khác.

– Lâm Văn Kiết từng có chân trong Hội đồng phái viên đã xác nhận với Hội đồng : Phần đất tranh chấp là của Biện Toại khai khẩn trước tiên. Công tố viên bèn nói tiếp : Lâm Văn Kiết chỉ là hương chức làng, làm sao dám cãi lại ông phủ (ám chỉ ông phủ H., người theo phe của bang Tắc).

– Tri phủ Ngô Văn H. khai rằng mặc dầu thấy có tranh chấp về đất đai, nhưng hồi năm ấy với danh nghĩa là chủ tịch Hội đồng phái viên, ông ta đành buông trôi vì đo lại ranh rấp đất đai là vấn đề phiền phức. Viên họa đồ đã tốn công đo đất ở làng Phong Thạnh suốt 3 năm rồi. Công tố viên bèn quở trách cho rằng vì công lý không thể viện lý do là mất thời giờ, nếu thấy bất công là phải đo đạc, xem xét ranh đất trở lại. Công tố viên nói thẳng: Lề lối của phủ H. trong lúc làm chủ tịch Hội đồng phái viên thật là bừa bãi, vì phủ H. bừa bãi nên xảy ra vụ án bi thảm này.

Bị luật sư chất vấn, phủ H. đành thú nhận rằng chính anh của ông ta chớ không phải ông ta là người đang hùn vốn với Bang Tắc để khai thác hai chiếc tàu đò đang chạy trên đường Bạc Liêu, Cà Mau mang tên là tàu Hồ Nam và Hồ Bắc.

– Khi Bang Tắc (Mã Ngân) ra làm chứng, ông ta bảo rằng khong hối hận gì cả. Viên hội thẩm hỏi Mã Ngân : “Dân chúng cho rằng đáng lý ra ông phải chết thay cho viên cò Tournier”. Mã Ngân nín, không trả lời.

– Qua lời khai của bà Hồ Thị Tr., công chúng thấy có sự sắp sặt của Bang Tắc để bán lại cho bà ta phần đất tranh chấp, vì ba ta đủ sức ăn thua công khai hơn. Mã Ngân muốn phủi tay.

Trước khi buộc tội, Công tố viên Moreau yêu cầu Tòa nên thận trọng trước khi phán quyết. Công tố viên nhắc lại rằng vụ này xảy ra sau vụ án Ninh Thạnh Lợi hồi năm ngoái. Vụ này chứng tỏ dân chúng đang sống trong tình trạng căng thẳng và vấn đề đất đai là chuyện nghiêm trọng. Người ta có thể xúc phạm bất cứ chuyện gì, nhưng nên tránh xúc phạm tới điền thổ.

Mã Ngân chỉ là người mua đất để cho tá điền mướn lại, trong khi Biện Toại là người đích thân canh tác. Công tố viên trách cứ bà Hồ Thị Tr. là giàu có (tài sản ước từ 2 đến 300.000 đồng lúc bấy giờ) mà quá nhẫn tâm đòi tịch thu tất cả lúa gặt hái được của Biện Toại lại còn đòi thêm một số tiền khác. Công tố viên bảo rằng hoàn cảnh của Biện Toại thật là khốn nạn: Những người không tình cảm đến giựt đất, rồi bọn quyền thế lại tiếp tay với bọn người sang đoạt.

Công tố viên Moreau yêu cầu Tòa :

– Tha bổng Biện Toại và con là Tia.

– Cho cô Trọng được hưởng trường hợp giảm khinh (ra trước Tòa cô Trọng cứ chối là không có cầm dao, mặc dầu đủ bằng cớ).

– Cho Miều (em rể của Biện Toại) được hưởng trường hợp giảm khinh, mặc dầu Miều đã ba lần bị can án ăn trộm.

– Tha bổng cô Liễu (em Biện Toại, vợ của Miều) vì thiếu bằng cớ.

Luật sư Tricon đứng lên biện hộ, đại ý nhận định đây chỉ là vấn đề điền địa. Ông cho rằng chánh sách trưng khẩn ruộng đất hồi thời nhà Nguyễn thật là công bằng và thích hợp với thực tế, trong khi những luật lệ về trưng khẩn đất đai do người Pháp đặt ra chưa được hoàn hảo có thể gây nhiều rắc rối lúc áp dụng vào thực tế. Thời gian quá kéo dài, từ khi đương sự được tạm cấp đất đến khi được cấp vĩnh viễn; vì vậy mà xảy ra cưỡng đoạt, gian giảo. Những người trong Hội đồng phái viên chỉ ngồi tại chỗ, không chịu bước chân xuốn bùn mà tới sở đất để xem xét. Họ quyết định theo ý kiến cho những người lương thiện hoặc kém lương thiện báo cáo lại.

Luật sư Tricon kết luận đại để :

– Biện Toại đã tranh đấu với rừng rậm để khai phá và tranh đấu với tử thần. Sau một ngày làm lụng khổ nhọc, anh em trở về chòi, sau khi ăn cơm, họ cho rằng chết có lẽ sướng thân hơn là sống trong hoàn cảnh nhọc nhằn. Sau khi tranh đấu với tử thần (có lẽ luật sư muốn nói tới bịnh rét rừng), anh em trong gia đình lại còn phải tranh đấu với những người khác, tức là bọn người chỉ biết có đồng tiền, làm giàu bằng thủ đoạn sang đoạt. Sau khi tranh đấu với bọn người nói trên, họ còn phải tranh đấu với thủ tục pháp lý.

Chúng ta, những người Pháp, nên xây dựng ở xứ này một chế độ độc tài. Không phải độc tài bằng sức mạnh của súng đạn, nhưng là sự độc tài của tình cảm cao đẹp.

Luật sư Zévaco đứng lên biện hộ, ca ngợi lời buộc tội của Công tố viên, vì Công tố viên đã lưu ý đến sự thật, đến công lý và cả lòng nhân đạo. Luật sư phân chia ra hai vụ án, vụ tranh chấp điền thổ và vụ án giết người.

Luật sư cho rằng chánh sách của nhà nước thì tốt, nhưng nhiều người thừa hành xấu đã làm cho chánh sách trở nên xấu đối với dân chúng. Việc cai trị trở thành xấu nếu các quan phủ (chủ quận) là người ác độc.

Sau khi xảy ra thảm trạng, có lẽ nhà nước nên nói thẳng với Mã Ngân : “Chúng tôi trả lại cho ông số tiền 1.080 đồng mà ông đã xuất ra theo giá của nhà nước để mua phần đất của Biện Toại. Và xin ông để nhà nước được yên”.

Luật sư nhắc lại ý kiến của Công tố viên là muốn cho bộ máy cai trị có lề lối đứng đắn thì phải sa thải những kẻ bất lương.

Luật sư nói thêm rằng : Đuổi những tên bất lương ở cấp dưới cũng chưa đủ, phải đuổi những người ở cấp cao hơn mà bấy lâu nhà nước đã tin cậy. Nên sa thải vài ông phủ, ông huyện bất hảo.

Chúng ta đã thấy rõ hành động của cặp bài trùng : Mã Ngân cấu kết với một ông phủ chủ quận. Tên chánh phạm của tấn kịch đẫm máu này chính là phủ H.

Trạng sư Zévaco cũng xin tòa tha thứ cho các bị can và lên tiếng: Xin quý ngài đừng đưa ra một bản án nghiêm khắc, một bản án được luận ra vì phẫn nộ. Bởi vì những người nông phu khốn nạn này mai đây cũng sẽ bị trừng phạt khá đầy đủ rồi, khi họ trở về tới nhà. Thừa phát lại sẽ tới để tịch thâu số lúa của họ, và lần này, quý tòa có thể tin rằng không bao giờ xảy ra vụ nổi loạn nữa đâu.

Thưa quý tòa, lần này sẽ có một bà lão khóc về cái chết của bốn đứa con. Bốn người này đã chết, vì họ tưởng rằng có thể tự lực gìn giữ phần đất ruộng mà họ đã từng rưới mồ hôi và máu của họ trên đó.

Một số người Pháp ở Cần Thơ và ở vài tỉnh lân cận đã đến xem phiên tòa gay cấn này, họ tỏ ra hài lòng với bản án. Vài người ở Phong Thạnh xin gặp những người bị tội và xin phép cho tội nhân ăn bữa cơm với thức ăn đem sẵn.

Một tiệc bày ra tại Cần Thơ để thết đãi hai vị luật sư và ký giả của các báo Pháp và Việt, do một số đồng bào ở Phong Thạnh và một số nhân sĩ như các ông Huỳnh Minh Chí, Nguyễn Duy Biện, Nguyễn Viết Trọng ở Giá Rài, ông Bùi Văn Túc ở Long Điền. Nên hiểu đây là thói trung hậu và hào hoa cố hữu của dân Bạc Liêu xưa nay. Một đại diện đứng lên cám ơn hai luật sư và bà hương chánh Luông cũng đến cám ơn họ.

noc nan 5
Đồng Nọc Nạng (Phim VN, trọn bộ 2 DVDs) D1: http://www.megaupload.com/?f=4NR9RY3I (96 MB each link) D2: http://www.megaupload.com/?f=DB032HKK (87 MB each link)

Năm 2004, Đài Truyền hình Bạc Liêu dù không dư dả gì về tài chính, vẫn bỏ ra 600 triệu đồng để thực hiện bộ phim “Đồng Nọc Nạn” dài 5 tập, do nhà văn Chu Lai viết kịch bản và đạo diễn Trần Vịnh dàn dựng

noc nan 6
TRUYỆN CỦA PHÚ VÂN, XUẤT BẢN NĂM 1956 VÀ 1985 (NXB Minh Hải)
noc nan 7
VỞ CẢI LƯƠNG “Máu thắm đồng Nọc Nạng” Soạn giả: Phạm Ngọc Truyền – Diễn viên:NSUT Phượng Loan và đoàn Cải lương Cao văn Lầu VỞ CẢI LƯƠNG “Máu thắm đồng Nọc Nạng”- Soạn Giả Phạm Ngọc Truyền – Diễn Viên:NSUT Phượng Loan và các NS Đoàn Cải lương Cao Văn Lầu
Theo Vnthuquan/FB Nguyễn Hồng Kiên
Advertisements

One thought on “HAI BIẾN CỐ QUAN TRỌNG TRONG “Lịch sử khẩn hoang miền Nam”

  1. Nhưng nớ ở hai thờ kỳ và hai chế độ khách nhau:
    1. Sảy ra dưới thời Đế quốc chủ nghĩa khi mà Tích lũy nguyên thủy đã bị lên án và xóa bó.
    2. Sảy ra dưới thới XH XHCN ở Việt Nam khi mà tích lũy nguyên thủy mới hình thành.

Đã đóng bình luận.