Hạt kiền kiền


Nguyên Ngọc

Còn cây nòng cốt thì mới còn rừng. Thì mới có tái sinh. Khi những cây nòng cốt đã bị tiêu diệt, thì rừng sẽ không còn tái sinh được.

Còn cây nòng cốt thì mới còn rừng. Thì mới có tái sinh. Khi những cây nòng cốt đã bị tiêu diệt, thì rừng sẽ không còn tái sinh được.

Nhà anh bạn Cơtu Priu Prăm của tôi nằm trên một ngọn đồi thấp, đối diện với dốc Kiền, cách một con suối nhỏ. Gọi là suối hay là sông cũng được, mùa nắng chỉ cần xắn quần lội qua, mùa mưa thì mênh mông, phải đi bè, í ới gọi và chờ chính người nhà của anh Priu Prăm ra chống, vì ngọn đồi bên ấy chỉ có mỗi nhà anh, chiếc bè ấy cũng là của nhà anh, tự tay anh đóng từ ngày về hưu và quyết định cất nhà trên ngọn đồi đơn độc kia. Có lần anh giải thích anh định đô ở đấy là để canh kiền kiền, khu rừng kiền kiền bên kia suối, theo anh là rừng kiền lớn, đẹp nhất còn lại ở nước ta ngày nay.

Người Cơtu ở Quảng Nam có hai nhánh, Cơtu thấp ở Đông Giang, trước đây gọi là huyện Hiên, Cơtu cao ở Tây Giang, sát Lào, những năm chiến tranh là một vùng hiểm yếu, rất ác liệt, vì có thể coi là cửa ngõ của Tây Nguyên, tức cũng là của toàn chiến trường miền Nam. Anh Priu Prăm quê Cơtu thấp, nhưng hồi ấy lại được điều lên làm Bí thư Tây Giang, một anh lãnh đạo ở tỉnh giải thích với tôi “vì trên cửa ngõ ấy cần một cây kiền kiền đích thực”.

Bạn có biết kiền kiền không? Tôi tò mò tìm hiểu, không có từ điển chuyên ngành thực vật học, tôi tra từ điển Việt-Pháp, thấy Tây gọi là hopea de pierre, hopea đá. Có vẻ không thật chính xác. Rắn như đá thì đúng rồi, nhưng đặc sắc nhất của kiền kiền là rắn mà dẻo, thế mới tài. Nên là gỗ đặc dụng đóng tàu biển. Đương đầu với biển lớn, rắn quá, chỉ rắn một bề, dễ bị bão tố đập tan. Rắn mà dẻo nữa mới vô địch. Tôi đã thấy những chiếc tàu biển đóng kiền kiền, be gỗ lượn mềm như lụa. Sóng dữ chẳng nể gì sắt thép, cái dẻo lại làm nó mất sức. Trụ trên cửa ngõ Tây Giang những năm quyết liệt nhất là một cây kiền kiền Cơtu như vậy, được gửi từ rừng kiền kiền nổi tiếng Đông Giang lên…

Hết chiến tranh, Priu Prăm trở về Đông Giang, công tác nhì nhằng gì đó thêm mấy năm, rồi nghỉ hưu. Ngôi nhà cất trên ngọn đồi thấp bên kia dốc Kiền ngày càng quạnh hiu. Cả nông thôn miền núi bây giờ cũng chẳng khác chi đồng bằng, công ăn việc làm ngày càng hiếm, càng khó. Thanh niên trai gái lần lượt bỏ ra đi hết, gần thì xuống Đà Nẵng, xa vô tận Sài Gòn. Con cháu anh Priu Prăm cũng vậy, quanh quẩn nhìn đi nhìn lại, cuối cùng hóa ra còn mỗi mình anh. Con suối trước nhà mùa khô lội bộ, mùa mưa thành sông lênh láng, sợ nhất là mùa mưa, có khi năm bảy tháng ròng có ma nào lai vãng đâu. Mà hưu chỉ còn nỗi vui bạn bè xưa. Priu Prăm lui cui đóng một chiếc bè. Hôm tôi lên, đứng ở bờ suối tưởng phải gọi lâu lắm, không ngờ vừa cất tiếng đã nghe bên kia anh gọi: Anh N. phải không? Giàng ơi, lâu quá. Chờ chút, chờ chút, có bè ngay… Anh vẫn tinh tai lạ lùng, đúng người ở núi, các giác quan đều bén nhạy, như con nai rừng, một bước chân khẽ làm gãy chiếc lá khô đủ đánh động. Huống nữa anh ấy đang chờ bạn…

Chúng tôi ngồi với nhau trước hiên. Chiều rừng đang xuống. Hầu như chẳng nói gì với nhau, chẳng cần nói gì cả. Chẳng cần lời dông dài nào hết. Có người thứ ba nghe được ắt sẽ rất lấy làm lạ. Lâu lắm mới thốt ra một tiếng. Rồi im lặng. Bao nhiêu năm lăn lộn cùng nhau khói lửa, trong mỗi chúng tôi đều đầy ắp, đầy ứ ký ức. Chỉ cần nhắc đến tên một gốc cây, một con khe, một hóc núi, một ngọn đồi, một hẻm đá… lập tức tất cả sống dậy bừng bừng. Chỉ cần nhắc đến một tiếng, rồi im lặng, cả hai chúng tôi đều biết phải im lặng, để trong im lặng ấy mọi thứ thức dậy, tươi rói, như hôm qua, như mới đây… Cả một thời…

Hóa ra câu chuyện đứt quãng, lối nói chuyện đứt quãng kỳ lạ ấy lại khiến chúng tôi bị xáo động. Nó soi rọi chói chang vào hôm nay, cái hôm nay chúng tôi không ngờ, không chờ. Cái hôm nay ngày ấy chúng tôi nào có mong, nào có biết, có ngỡ đâu nó ra nông nỗi này… Priu Prăm đột ngột đứng dậy, nắm lấy tay tôi: “Anh vô đây, anh vô đây…”. Anh kéo tôi bước vào nhà, đến cạnh bộ phản kê sát tường, chỉ cho tôi hai cái bao tải bằng vải trắng nhờ. Anh tháo dây buộc, mở một bao, bốc ra một nắm hạt nhỏ li ti màu nâu sẫm, ngửa tay, đưa lên sát mắt cho tôi nhìn. “Biết gì đây không, anh biết gì đây không?” – Anh hỏi, giọng chợt thầm thì mà lại dằn mạnh – “Anh biết gì đây không?… Hạt kiền kiền… Hạt kiền kiền… Năm năm nay tôi đi tìm cái hạt này đây. Cây kiền kiền, anh biết rồi, thân ba bốn người ôm, cao vút, mà hạt thì li ti, lại ở tít trên ngọn, tít đầu cành chót vót… Năm năm nay, tôi đi khắp rừng, leo kiền kiền, liều lĩnh, sẩy tay chết như chơi, lên cho tới ngọn, lần ra cho tới mút cành, dắt theo một cái bao, cầm cái cây khua cho hạt rơi vào bao. Năm năm được chừng này đó… Bây giờ chúng nó phá hết rồi, rừng ấy, lâm tặc, lâm tặc, nhưng một mình lâm tặc thì làm được gì, phải có ai nữa chớ, có ai nữa chớ. Có ai nữa thì không rừng nào giữ nổi. Mất hết, sạch, cả rừng kiền kiền này cũng chẳng còn…”, Priu Prăm hổn hển. Anh nói tiếp, giọng bỗng lạc hẳn đi: “Cho nên năm năm nay tôi lặn lội khắp rừng này, tìm những cây kiền kiền cuối cùng, không kể hiểm nguy, tìm được chừng này hạt đây. Bởi kiền kiền không phải là cây tầm thường, tôi ở rừng tôi biết, nó là cây vua, cây chủ lực. Rừng bây giờ mất hết rồi, nhưng còn cây chủ lực, còn hạt giống của cây chủ lực, thì còn có ngày khôi phục. Cho nên, này anh xem, đây là những hạt vàng, hạt vàng. Là gen của tái sinh, của hy vọng…”.

Tôi không ngờ đấy là lần cuối cùng gặp Priu Prăm. Mới rồi trở lên, rừng kiền kiền bên này tuyệt không còn dấu vết. Bên kia sông, không còn ai đưa bè. Bạn tôi, Priu Prăm đã mất. Mấy bao hạt kiền kiền của anh nghe nói gửi về đâu đó “ở trên”, rồi lạc đâu mất…

* * *

Năm ngoái trong một hội thảo ở Buôn Ma Thuột, có người nêu câu hỏi: Rừng Tây Nguyên bị tàn phá đến thế, có còn tái sinh được không? Người bảo nước mình nhiệt đới, khả năng tái sinh của rừng, dù tưởng đã kiệt, vẫn còn. Miễn là ta có gan đừng động đến rừng nữa, năm mươi năm, một trăm năm. Vấn đề là quyết tâm rất lớn, và thời gian. Có người lại bảo: ở đời cái gì cũng vậy, đều có một cái ngưỡng, vượt qua rồi là hết, không còn quay lại được nữa. Câu hỏi bây giờ: Tây Nguyên đã vượt ngưỡng chưa?… Tôi có tìm đến một chuyên gia lâm nghiệp hàng đầu. Anh ấy ngồi lặng hồi lâu, rồi chậm rãi, như tâm sự: “Anh ạ, trong rừng đâu phải cây nào cũng như cây nào. Có những cây bình thường, lại có những cây đặc biệt, ta gọi là cây nòng cốt. Còn cây nòng cốt thì mới còn rừng. Thì mới có tái sinh. Khi những cây nòng cốt đã bị tiêu diệt, thì rừng sẽ không còn tái sinh được. Chỉ mọc lại toàn rừng gai lúp xúp thôi. Ta sẽ để lại cho đời con đời cháu một cao nguyên toàn lúp xúp rừng gai… Mà nói cho cùng, phải không anh, nghĩ cho cùng, thì trong xã hội cũng vậy thôi. Cũng có những con người nòng cốt. Tự nhiên với xã hội, đâu có khác. Nếu ta diệt đi những nhân tố nòng cốt… Vậy đó, anh hiểu rồi, phải không?”.

Vâng, những hạt gen li ti của cây kiền kiền nòng cốt mà anh bạn Cơtu Priu Prăm hiền minh của tôi đã lặn lội, xông pha, chăm chút nhặt từng hạt, từng hạt, năm năm trường, giữ cho rừng, cho đời, cho hy vọng tái sinh…

Theo TBKTSG

Advertisements