Kiện Trung Quốc ra tòa và các ảnh hưởng Kinh tế- Chính trị


Lời dẫn của TS. Trần Đức Anh Sơn: TS. Lê Vĩnh Trương (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông) vừa gửi cho tôi bài tham luận do anh và TS. Lê Trung Tĩnh (Cộng hòa Pháp) vừa công bố tại Hội thảo quốc tế về Biển Đông tổ chức tại Trường Đại học Tôn Đức Thắng vào hai ngày 25 và 26/7/2014. Tham luận này cung cấp những thông tin và luận điểm xác đáng về việc “Tại sao VN phải kiện Trung Quốc về những hành động càn rở của TQ trong thời gian qua” và dự báo những tác động có thể diễn ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý thân hữu.
Lưu ý: Bản tiếng Việt này TĐAS có biên tập một vài điểm cho sáng rõ hơn. Ai cần bản gốc tiếng Anh thì xin liên hệ. TĐAS sẽ cung cấp.
1. Bối cảnh Biển Đông
Ngày 19/1 năm nay (2014) đánh dấu 40 năm ngày Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) sử dụng sức mạnh quân sự xâm chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. 40 năm qua, một phần lãnh thổ của Việt Nam bị chiếm đóng bất hợp pháp. 

 

Không chỉ chiếm đóng các đảo, Trung Quốc còn áp đặt quyền chủ quyền lên các vùng biển quanh Hoàng Sa. Từ đầu năm 2014, với “biện pháp thực hiện Luật ngư nghiệp Trung Quốc của tỉnh Hải Nam”, các cơ quan chấp pháp trên biển của Trung Quốc đã liên tục bắt giữ, xua đuổi, đối xử vô nhân đạo với ngư dân Việt Nam hoạt động trong ngư trường truyền thống hàng trăm năm nay ở quần đảo Hoàng Sa.

Các hành động và “biện pháp” trên của Trung Quốc đã diễn ra từ nhiều năm nay nhằm ép ngư dân Việt Nam phải từ bỏ ngư trường Hoàng Sa. Theo thông tin từ Chủ tịch Nghiệp đoàn Nghề cá một huyện ở Quảng Ngãi, chỉ trong năm 2012, đã có 300 ngư dân Quảng Ngãi bị Trung Quốc bắt giữ. Từ năm 2013, Trung Quốc thay đổi cách thức từ bắt giữ sang xua đuổi, bắn, đâm chìm tàu cá Việt Nam, phá hoại ngư cụ, thiết bị, tàu bè của ngư dân Việt Nam.
Và mới đây nhất là việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 vào trong vùng biển gần Hoàng Sa và ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, càng khẳng định rõ tham vọng trên của nước này. Theo Điều 57 và Điều 76 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, vị trí đặt giàn khoan HD-981 của Trung Quốc nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Để bảo vệ giàn khoan HD-981, Trung Quốc đã điều số lượng lớn tàu bảo vệ, có lúc lên đến 136 tàu các loại, bao gồm 4 tàu quân sự, 42 tàu hải cảnh, tàu dịch vụ, tàu vận tải, tàu cá vỏ sắt, đồng thời chủ động đâm va, sử dụng vòi rồng công suất lớn tấn công, gây thiệt hại cho tàu của lực lượng chức năng Việt Nam thực thi pháp luật tại khu vực này. 

Theo UNCLOS 1982, hành động dùng vòi rồng phun vào các tàu thực thi pháp luật của Việt Nam, sử dụng các máy bay tuần tiễu và đặc biệt nguy hiểm hơn là việc vũ khí của họ luôn được đặt trong chế độ sẵn sàng là hành vi sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực đối với lực lượng chấp pháp có thẩm quyền trên vùng biển của Việt Nam. Chính vì vậy, Trung Quốc đã vi phạm các nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp và nguyên tắc không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực.

Những việc này đi ngược lại các nguyên tắc của công pháp quốc tế điều chỉnh các hành vi của các quốc gia liên quan đến các lãnh thổ đang có tranh chấp, đi ngược lại các quy định có liên quan của UNCLOS 1982, Tuyên bố về ứng xử các bên trên Biển Đông (DOC) năm 2002 giữa các quốc gia ASEAN và Trung Quốc, và Thỏa thuận Việt Nam – Trung Quốc về các nguyên tắc chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển.
Trước tình hình căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng gia tăng trên Biển Đông kể từ tháng 5/2014 đến nay, thông tin gần nhất cho thấy lãnh đạo Việt Nam đang tính đến biện pháp pháp lý, hay nói cách khác là kiện Trung Quốc ra tòa.Liên quan đến việc kiện Trung Quốc, nhiều bài viết đã trình bày các vấn đề như cách thức tiến hành, hệ quả pháp lý của việc kiện.(1)

Cụ thể, Việt Nam cần nhanh chóng kiện việc Trung Quốc triển khai giàn khoan HD-981 theo cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS 1982. Tòa thành lập theo cơ chế này có thể kết luận việc Trung Quốc triển khai giàn khoan trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam là phi pháp.
Đó có thể là Tòa Trọng tài Quốc tế về Luật Biển (International Tribunal for the Law of the Sea, ITLOS) ở Hamburg, Đức; Tòa án Công lý Quốc tế (International Court of Justice, ICJ) tại La Haye, Hà Lan; hay một tòa trọng tài được thành lập đúng theo thủ tục của UNCLOS như cách Philippines đang làm.
Song song đó, Việt Nam nên yêu cầu chính thức Trung Quốc đưa tranh chấp Hoàng Sa ra giải quyết tại ICJ. Rõ ràng việc giải quyết tranh chấp Hoàng Sa bằng con đường đàm phán song phương không mang lại kết quả, vì Trung Quốc không chấp nhận có tranh chấp trên quần đảo này. Nếu để lâu hiện trạng như vậy sẽ càng ngày bất lợi cho Việt Nam.
Một câu hỏi quan trọng mà chúng ta cần phải trả lời là: Các ảnh hưởng kinh tế chính trị của việc Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa là gì?
Bài viết bắt đầu bằng việc phân tích các nhược điểm của cách tiếp cận kiên trì đàm phán của Nhà nước Việt Nam, từ đó đề ra biện pháp pháp lý, hay kiện như một hình thức đối ngoại tích cực và chủ động. Bài viết tiếp tục trình bày giá trị của việc kiện trong việc phòng ngừa chiến tranh, điều không ai mong muốn, ở xa nhất. Bài viết cũng trình bày việc kiện Trung Quốc một mặt tác động lên mọi mặt của nền chính trị Việt Nam, mặt khác có thể dẫn đến các trả đũa kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn mà Việt Nam cần phải chuẩn bị đối phó.

2. Kiên trì đàm phán?
Thông tin cũng cho biết có nhiều hy vọng từ phía Việt Nam đối với việc đàm phán để giải quyết vấn đề. Từ khi khủng hoảng nổ ra vào đầu tháng 5/2014 đến đầu tháng 6/2014, có gần 30 cố gắng đàm phán trao đổi từ phía Việt Nam từ cấp chuyên gia đến lãnh đạo cao nhất, tất cả đều không thành công.
Kiên trì đàm phán với Trung Quốc để giải quyết vấn đề trên Biển Đông là phương châm chủ đạo của lãnh đạo Việt Nam từ nhiều năm nay. Thực tế cho thấy cách tiếp cận này đã hoàn toàn thất bại, góp phần dẫn đến sự vụ giàn khoan HD-981, không ngăn được nếu không nói là còn cổ vũ thêm tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.
Trước tình thế hiện nay, khi Trung Quốc đang dùng giàn khoan, máy bay và tàu chiến xâm lấn vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cách tiếp cận kiên trì đàm phán càng không hợp lý. Trong tương quan chỉ giữa Việt Nam và Trung Quốc, nó đặt Việt Nam vào thế yếu, và có xu hướng nhượng bộ nhiều hơn để đạt được sự giảm nhiệt từ phía Trung Quốc. Trong việc thể hiện ra bên ngoài, kiên trì đàm phán với nước đang xâm lấn cũng gửi một thông điệp rất mờ hồ đến thế giới về cách phản ứng trước mắt cũng như lựa chọn chiến lược lâu dài của Việt Nam đối với Trung Quốc. Đây là một điều có hại để tranh thủ ủng hộ của thế giới.
Mặt khác, Trung Quốc đã từ nhiều chục năm nay cố gắng và tính toán xác lập việc xâm phạm chủ quyền và quyền chủ quyền trên toàn Biển Đông. Những năm gần đây tham vọng này càng lộ rõ: cắt cáp tàu Bình Minh 2, chính thức đưa “đường lưỡi bò” vào tuyên bố phản đối Tuyên bố chung Việt Nam – Malaysia, in “đường lưỡi bò” trên hộ chiếu… Do đó hy vọng Trung Quốc từ bỏ tham vọng có tính toán từ nhiều năm của họ bằng cách đàm phán chỉ là một ảo tưởng cần nhanh chóng dứt bỏ.
Kết quả tốt nhất của đàm phán khi Trung Quốc đang xâm lấn Viêt Nam chỉ có thể là giảm bớt chút ít sự xâm lấn của Trung Quốc. Ví dụ Trung Quốc cũng vẫn để giàn khoan ở đó nhưng sẽ hứa hẹn đàm phán về COC tích cực hơn. Thậm chí khi Trung Quốc có rút giàn khoan HD-981 đi thì họ vẫn có thể tuyên bố là họ đã thực thi quyền chủ quyền trên vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam mà họ cho là của họ.
Tuy nhiên để đàm phán “được” sự giảm bớt xâm lấn này, Việt Nam có thể phải đánh đổi bằng những nhượng bộ kinh tế, chính trị, tức là chấp nhận một sự xâm lấn và lệ thuộc nhiều mặt hơn trước đây. Một ví dụ cụ thể là Trung Quốc có thể áp lực để Việt Nam đồng ý cho họ khai thác chung trong các vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam như vùng Tư Chính, Nam Côn Sơn.
Do đó, kiên trì đàm phán là một sự đáng tiếc, tương đồng với đầu hàng và có thể sẽ được nói giảm bằng những từ ngữ ca ngợi sự thắng lợi, hoan hô tình hữu nghị giữa hai nước.
3. Đối ngoại, kiện như một vũ khí ngăn chặn trong quan hệ quốc tế
Tồn tại hai trường phái chính trong việc giải quyết các quan hệ quốc tế.(2)
Trường phái tự do (liberalism) với quan điểm chủ đạo đề cao các giá trị chung của nhân loại như hòa bình, công bằng và tin tưởng vào một thế giới hướng thiện nơi các quốc gia mong muốn cùng phát triển và mưu cầu hạnh phúc cho mình và cho người khác.
Trường phái thực tế (realism) ngược lại nhấn mạnh vai trò của từng quốc gia phải tự xoay xở để tự bảo vệ chính mình. Hay xa hơn nữa là trường phái thực dụng (realpolitik) hoài nghi các giá trị như hòa bình và công bằng, đề cao sức mạnh của quốc gia để cạnh tranh và sống còn.
Với vị thế nước nhỏ hiện giờ, Việt Nam cần phải tận dụng sức mạnh của các giá trị của trường phái tự do (liberalism), mà đại diện là các điều luật quốc tế, như UNCLOS 1982, hay Hiến chương Liên Hiệp Quốc, hay các cơ quan trọng tài quốc tế như ICJ, ITLOS. Nhất là khi Việt Nam ở cạnh một một quốc gia có quá khứ vi phạm những giá trị trên như Trung Quốc.
Do đó, đối với Việt Nam, việc sử dụng biện pháp pháp lý không phải là một lựa chọn tình thế, và sau cùng. Mà ngược lại đó là một sự bắt buộc, một lựa chọn tất yếu không cần bàn cãi khi bất công có khả năng, mầm mống xảy ra (không phải lâm vào thế khi bất công đã diễn ra trước mắt). Đó là một dạng vũ khí ngăn chặn, vũ khí răn đe (arme de dissuasion) của bên yếu hơn để ngăn chặn việc căng thẳng có thể bị đẩy đến tình trạng đáng tiếc là chiến tranh.
Việc không sử dụng, hay thậm chí chỉ không tuyên bố ngay từ đầu về khả năng sử dụng những biện pháp pháp lý giống như tự trói tay trước đối phương. Đây là một cách tiếp cận không khôn ngoan, nhất là khi đối phương mạnh hơn rất nhiều và có tiền sử sử dụng vũ lực, tức là có nhiều sơ hở để Việt Nam có thể răn đe bằng sức mạnh của biện pháp pháp lý.
Càng không phù hợp hơn cách tiếp cận đó được thể hiện rõ ràng thông qua các lập trường như “kiên trì đàm phán hòa bình” và đặc biệt là các khẩu hiệu “16 chữ vàng”, “4 tốt”.Các khẩu hiệu trên trên không thuộc một trường phái quan hệ quốc tế nào, và chắc chắn không thuộc trường phái tự do (liberalism). Vì nó không dựa trên sự công bằng, mà là sự nhượng bộ, không dựa trên hòa bình và tự do, mà là kết quả của sự đe dọa và dàn xếp.

Có thể có lập luận các khẩu hiệu đó chỉ là những mỹ từ ngoại giao hay nghi binh. Nhưng khi chính sách đối ngoại và chính trị của cả một quốc gia sử dụng mỹ từ để nói về kẻ thủ ác thì những người có thể giúp đỡ sẽ có suy nghĩ gì? Sự nghi binh có thể làm hình ảnh gần với đầu hàng, buông xuôi thì liệu có còn sử dụng được hay không? Ai sẽ dốc vốn liếng chính trị và tài chính quốc gia ra để tin và giúp một kẻ buông xuôi? Thay vì vậy họ sẽ thủ thân theo cung cách của trường phái thực tế (realism) cho chính họ.

Cụ thể, Việt Nam cần phải nhanh chóng kiện việc Trung Quốc triển khai giàn khoan HD-981 tại một tòa trọng tài thành lập theo cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS 1982.

Song song đó, Việt Nam nên yêu cầu chính thức Trung Quốc đưa tranh chấp Hoàng Sa ra giải quyết tại ICJ. Đây là một cách thức đấu tranh hoà bình được khoản 1 Điều 33, Hiến chương Liên Hiệp Quốc quy định.
Mặt khác, Việt Nam cần từ bỏ ngay và vĩnh viễn các khẩu hiệu bất thường trên và sử dụng cách thức bình thường và duy lý để giải quyết các mối quan hệ quốc tế : kiện Trung Quốc ra tòa khi ngay khi xuất hiện mầm mống bất công.
4. Kiện Trung Quốc ra tòa hay/và chiến tranh
4.1. Kiên trì đàm phán lại tiềm ẩn nguy cơ gây bùng nổ chiến tranh
Thật ra Trung Quốc cũng đã và đang tấn công Việt Nam trên biển. Dùng tàu để đâm, dùng vòi rồng phun vào tàu và kiểm ngư Việt Nam đều là những cách thức gây phá hủy và có thể sát thương. Tất cả đều dưới sự yểm trợ của máy bay và tàu chiến.Một điều có vẻ nghịch lý nhưng lại là sự thật, việc kiên trì đàm phán lại tiềm ẩn nguy cơ gây bùng nổ chiến tranh. Thứ nhất, vì dầu gì thì trong thời gian đàm phán, nhà nước Việt Nam vẫn phải duy trì việc phản đối trên thực địa bằng các tàu kiểm ngư. Các va chạm và căng thẳng kéo dài sẽ nóng dần lên và có thể bùng nổ thành xung đột vũ trang trên biển. Thứ nhì, nếu nhận thấy Việt Nam không có lựa chọn nào khác là đeo bám đàm phán, Trung Quốc sẽ không ngần ngại tấn công cục bộ để gây áp lực và sợ hãi. Khi đó Việt Nam có hai khả năng phản ứng: hoặc là ngậm bồ hòn làm ngọt, tức đầu hàng; hoặc là phản công, tức chiến tranh xảy ra.

4.2. Chiến tranh không giải quyết được tranh chấp
Chiến tranh, dầu kết thúc thế nào, cũng khó mà giải quyết mâu thuẫn rốt ráo. Khuất phục một người bằng sức mạnh đã khó, khuất phục cả một dân tộc bằng sức mạnh là điều không thể.
Trong lịch sử cận đại, Việt Nam và Trung Quốc đã trải qua các cuộc chiến vào các năm 1974, 1979, 1988; mâu thuẫn chỉ chất chồng lên thêm. Các cuộc chiến đó, dầu Việt Nam thua hay thắng, dĩ nhiên cũng không làm Việt Nam đồng ý hơn với Trung Quốc. Ngược lại, Trung Quốc có thắng hay thua, họ cũng không hài lòng và “tốt”, “vàng” với Việt Nam hơn. Kết quả của chiến tranh chỉ làm cho bên mạnh thêm bạo tàn và tham lam, bên yếu hơn vẫn bất bình, bức xúc, dầu các nhà nước đại diện họ có đưa ra bao nhiêu mỹ từ để diễn tả mối quan hệ.
Ngược lại, đấu tranh pháp lý trược tòa là một biện pháp tốt hơn rất nhiều cho cả hai nước giải quyết tranh chấp và mâu thuẫn. Khi đó, mỗi quốc gia đều công bằng, và tùy nghi sử dụng các vũ khí của mình: những lập luận, chứng cứ pháp lý, và lịch sử. Phán quyết sẽ là duy lý, rõ ràng, thông báo rộng rãi, và được sự công nhận của quốc tế.Xin nhấn mạnh ở đây chỉ nói đến sự thất bại của chiến tranh như một phương tiện để giải quyết mâu thuẫn cho cả hai nhà nước Việt Nam và Trung Quốc. Còn về những tội ác và đau khổ của chiến tranh thì không còn gì phải nói.

4.3. Chiến tranh xóa nhòa lịch sử
Chiến tranh không giải quyết được mâu thuẫn. Các cuộc chiến, tuy đầy đau đớn và mất mát, nhưng lại không mang đến cho những quốc gia tham dự một bài học kinh nghiệm thật sự nào tích cực ngay sau đó. Vì nhiều lý do, các bên tham chiến dù thắng hay thua cũng đều có nhu cầu phải méo mó lịch sử liên quan. Trong từng nước, các nhà lãnh đạo sau cuộc chiến lại tiếp tục được tụng ca bằng những hình ảnh anh hùng hay bi tráng.Ít nhất vài chục năm sau đó người ta mới tỉnh ngộ, gạt ra bên cạnh những luận điệu thời chiến dễ vin vào, để quay nhìn lại sự vụ với một sự bình tĩnh thực sự. Trong niềm hy vọng mong manh không có cuộc chiến nào sớm nổ ra.

Nếu kiên trì đàm phán hay đầu hàng là một vết nhơ lịch sử thì chiến tranh là sự che lấp trong thời gian dài lịch sử và sự thật dưới lớp đất mang tên số năm của cuộc chiến đó.
4.4. Kiện phòng ngừa chiến tranh
Trừ khi vì mục đích phòng vệ, chiến tranh là điều nên tránh. Thật ra sự phòng vệ hiệu quả và thông minh là một mặt luôn chuẩn bị cho chiến tranh nhưng mặt khác giữ chiến tranh ở cách xa mình nhất.
Việc kiện Trung Quốc ra tòa là một cách giữ chiến tranh ở xa mình nhất. Vì sao khi mỗi lần Việt Nam nói về khả năng sử dụng biện pháp pháp lý thì Trung Quốc lại tức giận? Chắc chắn không phải vì sợ sứt mẻ tình hữu nghị giữa hai nước, mà vì khi đưa sự vụ ra tòa, dưới ánh sáng của công lý và dư luận quốc tế, Trung Quốc không thể ngang ngược dùng vũ lực để uy hiếp những kiểm ngư Việt Nam, không thể hung hăng đe dọa chiến tranh như khi chỉ có hai nước với nhau và Việt Nam chỉ biết kiên trì đàm phán.Việt Nam nên nhanh chóng sử dụng các biện pháp pháp lý, cách thức duy nhất để thực sự giải quyết dứt điểm các tranh chấp. Trung Quốc phải lắng nghe điều này.

Có thể Trung Quốc sẽ không chấp nhận giải quyểt tranh chấp bằng biện pháp pháp lý do phần nào mất đi lợi thế kẻ mạnh của mình. Nhưng chính quyền Trung Quốc, dầu có thể hiếu chiến đến cỡ nào, cũng hiểu rằng chiến tranh đồng nghĩa với đau khổ, mất mát. Nhất là như trên đã nói, chiến tranh không bao giờ giải quyết được mâu thuẫn với Việt Nam, láng giềng phương Nam của họ. Và Trung Quốc cũng thấy rằng cái giá phải trả của chiến tranh sẽ cao hơn nếu họ biết rằng Việt Nam không ngại chiến đấu về cả pháp lý và vũ trang.

Mặt khác, ngay cả khi chiến tranh xảy ra, biện pháp pháp lý cũng cần thiết và phải được Việt Nam tiến hành, Vì nếu chỉ có chiến tranh, kết quả có thế nào thì mâu thuẫn vẫn còn đó, và càng thêm trầm trọng. Mặt khác việc Việt Nam đề cao biện pháp pháp lý và ôn hòa sẽ tạo được sự ủng hộ của dư luận thế giới trong thời chiến. Và khi đi đến cùng, chiến thắng của Việt Nam trên công pháp quốc tế sẽ là một đòn vào kẻ gây chiến Trung Quốc.
5. Một số hệ quả chính trị của việc kiện Trung Quốc ra tòa
Việc kiện Trung Quốc ra tòa cho Việt Nam khả năng giải quyết vấn đề HD-981 và tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa một cách công bằng và hiệu quả nhất.Kiện Trung Quốc ra tòa đặt người Việt Nam trước một ứng xử mới với Trung Quốc. Việc kiện diễn ra trong thời gian dài sẽ đặt lại mối quan hệ giữa hai nước, các khẩu hiệu “16 chữ vàng”, “4 tốt” sẽ không có cơ hội tồn tại, và tất cả đều diễn ra trong hòa bình. Khi chọn một vị thế rõ ràng hơn với Trung Quốc, Việt Nam sẽ có được sự hậu thuẫn lớn hơn của thế giới tự do. Việt Nam có cơ hội thoát khỏi ảnh hưởng về kinh tế chính trị của Trung Quốc, điều mà việc đeo bám đàm phán hay sự đứt gãy của chiến tranh không thể mang lại.

Trước tòa, Trung Quốc và Việt Nam đều phải trưng ra những bằng chứng lịch sử, pháp lý chính xác nhất. Khi câu chuyện lịch sử được nhắc đến một cách duy lý, rõ ràng, vì chủ quyền đất nước, vì những vấn đề hệ trọng của dân tộc, cần sự thông cảm của nhiều người, thì nó giúp người Việt vừa hiểu biết về lịch sử, vừa hiểu nhau và dễ hòa giải với nhau hơn.
Quan trọng hơn, việc kiện giúp người Việt phần nào thoát ra khỏi chính mình và tiến đến với những giá trị phổ quát của nhân loại như “công bằng”, “hòa bình”, “duy lý”. Khi đấu tranh vì công lý cho đất nước, người Việt cũng hiểu và yêu cầu công lý cho chính họ.
Điều đó sẽ tạo nên sức mạnh thật sự cho Việt Nam.
Trên tinh thần đó thì kiện Trung Quốc ra tòa là lựa chọn thích hợp nhất của Việt Nam so với việc kiên trì đàm phán, một cách tiếp cận vừa quá gần với đầu hàng, vừa tiềm ẩn nguy cơ chiến tranh. Do đó kiện Trung Quốc không nên là lựa chọn cuối cùng, mà là một việc cần làm sớm nhất có thể.
6. Các trả đũa về kinh tế tức thì và ngắn hạn có thể có của Trung Quốc khi Việt Nam kiện Trung Quốc
Ngay sau khi Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa, có thể Trung Quốc sẽ có các trả đũa tức thì và ngắn hạn như việc ngưng nhập một số sản phẩm nào đó trong một khoảng thời gian.
Một ví dụ tiêu biểu cho kiểu phản ứng này là trả đũa của Trung Quốc khi có căng thẳng giữa hai nước này và Philippines trong vòng hai tháng trên vùng biển quanh Scarbourough Shoal.(3)
Vào đỉnh điểm của căng thẳng, tức giữa tháng 5/2012 và sau ngày bắt đầu căng thẳng một tháng, Trung Quốc tuyên bố ngưng nhập 1.200 containers trái cây của Philippines, đang đậu ở các cảng. Đồng thời Trung Quốc cũng khuyến cáo ngừng du lịch vào Philippines. Việc này đã gây một số khó khăn cho nông dân Philippines và chính quyền của Tổng thống Aquino 3 của Philippines.
Tuy nhiên một điều thú vị là suốt thời gian căng thẳng này, mức độ ủng hộ của người dân và các đảng phái chính trị đối với Tổng thống Aquino 3 đã lên cao. Toàn nước Philippines như đoàn kết lại một khối sau Tổng thống Aquino 3. Sau sự kiện này Philippines đã đề đơn thưa Trung Quốc ra trọng tài lập bởi UNCLOS 1982.
Các trả đũa kiểu như trên là các điều mà Việt Nam từ chính phủ đến người dân phải chuẩn bị. Lịch sử sống bên cạnh láng giềng phương Bắc có lẽ cũng làm người dân Việt Nam quen thuộc và có cách phản ứng tương ứng với các kiểu cách trả đũa hay hành xử tương tự từ Trung Quốc: mua móng trâu(4), ốc bươu vàng, bán hàng rẻ và kém chất lượng, thỉnh thoảng ách hàng tại biên giới…
Những đặc điểm bình thường là hạn chế của nền sản xuất công, nông nghiệp Việt Nam như nhỏ lẻ, hay xáo động, lại phần nào trở nên tích cực trong “thời chiến”, ví dụ như có khả năng thích ứng cao và tự điều chỉnh linh hoạt trong nhiều tình huống khó khăn. Và cũng như Philippines, người dân Việt Nam, một khi được đặt trước vấn đề chủ quyền dân tộc thường có phản ứng kiên cường và chấp nhận hy sinh. Vấn đề là chính phủ phải phản ứng rõ ràng, minh bạch và tạo được niềm tin trong dân chúng.
7. Các trả đũa kinh tế dài hạn và vĩ mô liên quan đến cán cân thương mại, hợp tác, đầu tư

 

Trong thời gian dài diễn ra vụ kiện, Trung Quốc có thể tác động lên giao dịch thương mại, làm ngưng trệ giao thương, hợp tác, đầu tư giữa hai nước. Điều này trong ngắn hạn sẽ làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân Việt Nam. Tuy nhiên về trung hạn và dài hạn, các trả đũa này nếu kéo dài sẽ là liều thuốc quý để Việt Nam giải quyết dứt điểm các vấn đề, các điểm yếu trong mối quan hệ kinh tế với Trung Quốc.

Thứ nhất, hiện nay Việt Nam đang là nước nhập siêu đối với Trung Quốc, giá trị nhập khẩu gấp khoảng 2-3 lần giá trị xuất khẩu và không có dấu hiệu thu hẹp. Các trả đũa về thương mại dưới bất cứ hình thức nào của Trung Quốc, nếu có, cũng chỉ có thể làm Việt Nam nhập khẩu ít đi từ Trung Quốc, thương mại hai nước sẽ đi đến cân bằng hơn. 

 

Thứ nhì, các mặt hàng Việt Nam nhập từ Trung Quốc có nhiều hàng nông sản, 40% là các hàng hóa cơ bản, thâm dụng tài nguyên và công nghệ thấp. Căng thẳng thương mại với Trung Quốc sẽ buộc Việt Nam quay về với các sản phẩm nông sản và cơ bản và của chính mình.

Ngoài ra việc Việt Nam phải nhập các sản phẩm như sắt thép, máy móc thiết bị từ Trung Quốc một phần lớn là do các nhà thầu EPC Trung Quốc hay các dự án FDI từ Trung Quốc không tuân thủ các chỉ tiêu sử dụng sản phẩm và nhà thầu Việt Nam. Việt Nam hoàn toàn có thể cái thiện và giảm thiểu nhập khẩu từ Trung Quốc các dạng sản phẩm này nếu quản lý nghiêm chỉnh các dự án FDI, các việc chấm thầu EPC.

 

Thứ ba, do đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam không nhiều, chiếm tỷ trọng FDI nhỏ so với các nước khác như: Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, trong trường hợp Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa, thì việc Trung Quốc (nếu có) cắt giảm các nguồn đầu tư cũng không thể tạo thành một sức ép đối với kinh tế Việt Nam.

Tuy đem đến Việt Nam không nhiều ngoại tệ, Trung Quốc lại có mức độ hưởng lợi cao hơn rất đáng kể so với các quốc gia khác.(5) Các dự án FDI từ Trung Quốc thường đưa nhân công Trung Quốc tràn lan thành cả làng, cả phố Trung Quốc ngay trên lãnh thổ Việt Nam.(6)
Các công ty Trung Quốc lại kéo theo những máy móc thiết bị công nghệ cũ, lạc hậu sang làm việc. Việc “căng thẳng” kinh tế nếu có với Trung Quốc sẽ buộc Việt Nam xử lý dứt điểm các vấn đề này, và đó là một điều tốt.
Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam, nhưng không phải là đối tác thương mại duy nhất, và khó có thể là một đối tác tốt, ổn định, bình đẳng và tuân thủ các giá trị công bằng, bảo vệ môi trường, ít nhất nếu tình hình tiếp tục diễn tiến như hiện nay. Việc Trung Quốc trả đũa kinh tế nếu Việt Nam yêu cầu họ ra tòa sẽ cho thấy nước này nhặp nhằng giữa kinh tế và chính trị, và đó là cơ hội để Việt Nam hướng đến những bạn hàng bình đẳng hơn, với cán cân thương mại thăng bằng hơn cho Việt Nam, ví dụ như Hoa Kỳ và EU, và giảm sự phụ thuộc về kinh tế của Việt Nam vào Trung Quốc.
8. Khả năng Trung Quốc tiến hành các trả đũa kinh tế trong dài hạn

 

Khác với căng thẳng Philippines và Trung Quốc diễn ra trong vòng hai tháng, việc Việt Nam đưa Trung Quốc ra tòa là một việc có thể diễn ra khá dài, vài tháng thậm chí vài năm.

Trong trường hợp đó, phản ứng của Trung Quốc sau khi Philippines kiện Trung Quốc trước ITLOS là một ví dụ cần xem xét. Điểm thú vị đáng lưu ý là từ khi Philippines đệ đơn kiện vào tháng 1/2013 đến nay, hầu như chúng ta không ghi nhận được một trả đũa kinh tế rõ ràng nào của Trung Quốc đối với Philippines. Khác hẳn với trường hợp căng thẳng trong hai tháng trên Scarborough Shoal.
Một ví dụ khác là phản ứng của Trung Quốc sau khi Việt Nam thông qua Luật Biển vào ngày 21/6/2012. Theo Carl Thayer (7), Trung Quốc đã biết về việc Việt Nam soạn thảo Luật Biển và đã nhiều lần can thiệp đề nghị Việt Nam dừng lại. Tuy nhiên, sau khi Việt Nam thông qua Luật Biển, gần như không có một động thái trả đũa kinh tế rõ ràng nào của Trung Quốc được ghi nhận.
Các ví dụ trên cho thấy Trung Quốc không dễ dàng, hoặc không thể sẳn sàng sử dụng các biện pháp trả đũa kinh tế. Các mối quan hệ kinh tế, thương mại giữa các quốc gia và giữa quốc gia và các tổ chức kinh tế ngày càng gắn kết, chặt chẻ, và đòi hỏi một sự ổn định, hợp lý, và nhất quán trong cư xử. Nhất là Trung Quốc hiện giờ đang là nước với kim ngạch thương mại đứng đầu thế giới, một động thái nào của họ cũng đều được theo dõi và chỉ trích nếu “quá đáng” và kéo dài. Đó là lý do Trung Quốc thường chọn cách tiếp cận gây sức ép chính trị ngấm ngầm, và cố gắng giữ sự việc trong tầm mơ hồ, xử lý nội bộ với nhau, trong khi đó vẫn tiếp tục các hành động lấn tới: chiếm đóng đảo, xua đuổi ngư dân, và đưa giàn khoan HD-981 vào thềm lục địa Việt Nam.

 

Hiểu được điều này, Việt Nam hơn bao giờ hết cần sớm đưa vấn đề ra ánh sáng, ra công lý quốc tế, bằng cách chính thức kiện Trung Quốc ra tòa với hai cách thức trên vì chủ quyền và an ninh quốc gia.

9. Kết luận
Kiện Trung Quốc ra tòa là một hành động văn minh, thể hiện tinh thần thượng tôn công pháp quốc tế và hòa bình. Đó là một điều bình thường, một cách cư xử đúng đắn giữa các nước láng giềng với sự tôn trọng tối thiểu giành cho nhau.
Các phân tích trong bài viết cho thấy Việt Nam cần nhanh chóng dứt bỏ cách thức tiếp “cận kiên trì đàm phán” với Trung Quốc để sử dụng biện pháp pháp lý. Việc kiện Trung Quốc ra tòa vừa là một hình thức đối ngoại tích cực, vừa là giải pháp phòng ngừa hiệu quả chiến tranh.
Mặt khác việc kiện Trung Quốc cũng sẽ tạo nên những ảnh hưởng chính trị tích cực đối với Việt Nam. Việc đưa Trung Quốc ra tòa đặt người Việt Nam trước một ứng xử mới với Trung Quốc, các khẩu hiệu “16 chữ vàng”, “4 tốt” sẽ không có cơ hội tồn tại. Quan trọng hơn, việc kiện giúp người Việt phần nào thoát ra khỏi chính mình và tiến đến với những giá trị phổ quát của nhân loại.
Kinh nghiệm đối với láng giềng phương Bắc cho thấy khi thực hiện công việc lành mạnh đó, Việt Nam có thể gặp phải các trả đũa về kinh tế của Trung Quốc. 

 

Các trả đũa tức thì và thời đoạn có thể gây các khó khăn cho người dân, cho sản xuất của Việt Nam. Và đó là điều Việt Nam cần chuẩn bị tinh thần.

Tuy nhiên về trung hạn và dài hạn, các trả đũa này nếu kéo dài sẽ là liều thuốc quý để Việt Nam giải quyết dứt điểm các vấn đề, các điểm yếu trong mối quan hệ kinh tế với Trung Quốc:
Thứ nhất, thương mại hai nước sẽ đi đến cân bằng hơn, Việt Nam sẽ hướng đến việc quay về với các sản phẩm nông sản và cơ bản và của chính mình.
Thứ hai, Việt Nam sẽ và phải xử lý các vấn đề liên quan đến FDI từ Trung Quốc hay của các nhà thầu EPC Trung Quốc: công nhân Trung Quốc tràn lan ở Việt Nam, công trình kém chất lượng và không tôn trọng các chỉ tiêu nội địa hóa của Việt Nam.
Thứ ba các khó khăn đó là động lực, cơ hội để Việt Nam cải tổ cơ cấu, sản xuất, và tiêu dùng, và hướng đến các đối tác thương mại bền vững hơn, thậm chí đạt được một mối quan hệ kinh tế thương mại bình đẳng hơn với Trung Quốc.
Hiểu rõ các khả năng trả đũa của Trung Quốc, dự đoán và chuẩn bị thưc lực kinh tế để đối phó và ít bị ảnh hưởng nhất là điều cần làm. Tuy nhiên, Việt Nam không nên để những quan ngại về các trả đũa đó ngăn chúng ta có những quyết định vì lợi ích dân tộc và chủ quyền đất nước.
TS. Lê Trung Tĩnh – TS.Lê Vĩnh Trương
_____________Chú thích:
(1). Các ý kiến trong và ngoài nước về việc Việt Nam cần thách Trung Quốc đưa tranh chấp Hoàng Sa ra phân xử bởi một cơ quan trọng tài quốc tế. 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2014/01/140124_duongdanhdy_unrealistic_solutions.shtml
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/03/120331_danhhuy_hoangsa.shtml
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2014/03/140314_vietnam_role_scs_conflict.shtml
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/01/140112_vn_china_sea_disputes_solution.shtml 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/01/140110_vn_paracels_legal_action.shtml
https://www.facebook.com/notes/trung-tinh-le/vi%E1%BB%87t-nam-c%E1%BA%A7n-%C4%91%C6%B0a-tranh-ch%E1%BA%A5p-ho%C3%A0ng-sa-ra-tr%E1%BB%8Dng-t%C3%A0i-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/10152335955925269
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140116/quyen-ke-thua-cua-nha-nuoc-va-chu-quyen-hoang-sa-truong-sa.aspx
(2). http://community.tuanvietnam.net/2009-10-06-chu-quyen-viet-nam-va-luat-phap-quoc-te-2/
(3). Renato Cruz de Castro, 2012. China’s Realpolitik Approach in the South China Sea Dispute : The Case of the 2012 Scarborough Shoal Stand-Off. International Confenrence on the Sovereingity of Hoang Sa and Truong Sa at Pham Van Dong Univeristy, Vietnam, 2012.
(4). http://giaoduc.net.vn/Kinh-te/Thi-truong/10-ngon-don-hiem-ac-cua-thuong-lai-TQ-khien-dan-Viet-Nam-dieu-dung-post7321.gd
(5). http://baodatviet.vn/kinh-te/doanh-nghiep/fdi-trung-quoc-lo-lach-luat-chen-ep-doanh-nghiep-viet-3032584/
(6). http://www.rfa.org/vietnamese/reportfromvn/cn-suffused-in-quang-tri-03032014081043.html
(7). Carlyle A. Thayer, 2012. The Pilippines’ Claim to the UNCLOS Arbitral Tribunal: Implcations for Viet Nam. International Confenrence on the Sovereingity of Hoang Sa and Truong Sa at Pham Van Dong Univeristy, Vietnam, 2012.
Advertisements