Khi cội “Bồ Đề” không còn bóng mát


Dư luận đang xôn xao chuyện chùa Bồ Đề (Gia Lâm – Hà Nội), một cơ sở từ thiện lại đang bị tình nghi có dính dáng đến đường dây buôn bán trẻ em. Sự việc cho dù cá biệt, nhưng ít nhiều tác động tới nhận thức nhiều người bấy lâu đặt niềm tin vào các hoạt động từ thiện của những tổ chức tôn giáo.

Theo trang web chinhphu.vn, câu chuyện xảy ra như sau: bà Trần Thị Thu Hà (Phú Thọ) có quan hệ yêu đương với ông Vũ Xuân Trường (Tuyên Quang), sinh được một cháu trai nhưng vì hoàn cảnh riêng, muốn giấu gia đình nên họ đã đưa con mình đến gửi ở chùa Bồ Đề nhờ nuôi giữ.

Cháu bé Cù Nguyên Công, nạn nhân của việc mua bán trẻ em ở chùa Bồ Đề.

Cháu bé Cù Nguyên Công, nạn nhân của việc mua bán trẻ em ở chùa Bồ Đề.

Tại chùa Bồ Đề, sư trụ trì Thích Đàm Lan đã giao cho bà Nguyễn Thị Thanh Trang (36 tuổi, ngụ tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) là người được giao phụ trách cơ sở nuôi trẻ trong chùa, làm thủ tục tiếp nhận cháu bé. Khi biết người quen của mình là Phạm Thị Nguyệt (ngụ ở quận Hoàng Mai, Hà Nội) có nhu cầu nhận con nuôi, bà Trang đã thuyết phục bà Hà, mẹ cháu bé, làm giấy từ con. Sau đó thì người quản lý cơ sở từ thiện này hợp thức thủ tục giao nhận con nuôi cho chị Nguyệt và đồng thời yêu cầu mức tiền bồi dưỡng là 40 triệu đồng.

Sự việc bị đưa ra ánh sáng khi ông Nguyễn Thành Long, người thường lui tới chùa làm từ thiện và quan tâm đặc biệt tới cháu bé nói trên, phát hiện trong một thời gian dài, từ đầu tháng 1-2014 tới nay, cháu bé biến mất khó hiểu. Là người nhận làm cha đỡ đầu và đặt tên cho cháu bé, ông Long cảm thấy bất an và đã làm đơn tố cáo lên cơ quan điều tra địa phương.

Điều đáng nói, có 9 cháu bé khác trong cơ sở nuôi trẻ từ thiện của chùa Bồ Đề cũng bị biến mất khó hiểu tương tự trường hợp trên, theo đơn thư tố cáo của người dân với cơ quan điều tra.

Liệu có một đường dây mua bán trẻ tại chùa Bồ Đề hay không? Trách nhiệm của sư trụ trì ra sao trong những vụ việc này?… đó là những câu hỏi lớn mà cơ quan điều tra đang tìm lời giải đáp.

Vấn đề là, sự việc tồi tệ ở Bồ Đề đang tạo ra đã một ảnh hưởng xấu đến niềm tin xã hội với các cơ sở từ thiện, đặc biệt là cơ sở từ thiện tôn giáo. Phía chính quyền, chắc chắn sau vụ này, cũng sẽ có sự kiểm soát chặt chẽ hơn về mặt hành chính, để đảm bảo an ninh trật tự, tránh những tiêu cực tương tự.

Nhưng có thể thấy trước, thủ tục hành chính theo khuynh hướng hoài nghi chủ nghĩa, nghiêm khắc và máy móc sẽ gây khó cho những người, tổ chức muốn làm từ thiện thực tâm. Đơn giản, đa phần đối tượng của sự trợ giúp không phải bao giờ cũng chứng minh được lai lịch rõ ràng. Những cơ sở tư nhân nuôi người tâm thần lang thang, những ông cha xứ đi “nhặt” bọn trẻ bị bỏ rơi lề đường về nuôi trong nhà thờ… thì không thể đòi hỏi họ phải chứng minh cho bằng được gốc gác lai lịch người được cưu mang một cách cụ thể.

Việc giám sát an ninh trên từng địa bàn là điều quan trọng. Nhưng điều quan trọng hơn là không nên bỏ qua yếu tố tâm lý và khía cạnh nhân cảm, không nên vô tình biến những thủ tục hành chính thành ra máy móc khô khan, cản trở hoạt động nhân đạo trong xã hội, khi mà xã hội còn trông nhờ rất nhiều vào sự từ tâm của các cơ sở từ thiện tôn giáo.

Cuối cùng, với nhận thức xã hội, khi  những “gốc Bồ Đề” trở thành nơi trú ngụ của lòng tham, dung dưỡng cái ác, không còn là bóng mát cưu mang mà trở thành cái cạm bẫy đầy gai góc hiểm nguy của những phận đời cần được xót thương và nâng niu, thì niềm tin con người ta còn biết trông chờ vào đâu?

Chỉ biết nói với nhau rằng, Bồ Đề chỉ là câu chuyện cá biệt. Trên đất nước này có hàng trăm linh mục, nhà sư, tu sĩ… đang chạy đôn chạy đáo để lo từng bữa ăn cho cơ sở từ thiện của mình. Họ miệt mài minh chứng cho sự hiện diện của lòng tốt trên đời.

Xin đừng vội đánh mất niềm tin.

Nguyễn Vĩnh Nguyên (TBKTSG)

Advertisements