Advertisements

Niềm tin trong thử thách


Mới đây, trong phát biểu của mình, Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang có nhắc đến yếu tố niềm tin của dân đối với người lãnh đạo có vai trò quan trọng như thế nào đối với sự nghiệp chung của đất nước.

Lễ Thượng cờ tại cửa ngôi nhà đoàn Mỹ ở

Lễ Thượng cờ tại cửa ngôi nhà đoàn Mỹ ở

Nhân đây, xin nhắc lại những sự kiện diễn ra cách đây đã ngót bảy thập kỷ, vào thời điểm nước Việt Nam mới giành được độc lập đang đứng trước nhiều thử thách to lớn và cũng là lần đầu tiên phải đối phó với những ý đồ của các nước lớn để bảo vệ những lợi ích sống còn của dân tộc mình, mà đến nay chúng ta càng thấm thía sau những trải nghiệm đã qua và những thử thách còn ở phía trước. Đó cũng là những hoạt động ngoại giao dầu tiên của nước Việt Nam mới giành được độc lập.

Trong lịch sử ngoại giao của nhà nước ta, nghi thức ngoại giao đầu tiên mang tính nhà nước là “lễ thượng kỳ” được tổ chức vào ngày 26.8.1945, một ngày trước khi Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam thành lập trên cơ sở cải tổ Ủy ban Giải phóng Dân tộc được bầu tại Đại hội Quốc dân Tân Trào. Nghi thức này được dành để đón tiếp phái bộ của Đồng minh mà đứng đầu là Archimèdes Patti chỉ huy cơ quan OSS (Tình báo chiến lược Mỹ) đặt bản doanh tại Côn Minh vừa bay tới Hà Nội. Hồi ức của A.Patti kể rằng, ông khá bất ngờ khi nhận được tin mời dự nghi thức này ngay tại cửa ngôi nhà nơi đoàn ở (nay là cơ quan Báo Nhân dân, phố Hàng Trống).

Đông đảo quần chúng mang theo cờ của các nước Đồng minh và những khẩu hiệu hoan nghênh phái đoàn cũng như bày tỏ ý chí độc lập của người Việt Nam đã tề tựu một cách trật tự. Chủ trì buổi lễ đó là Võ Nguyên Giáp, người sắp mang trọng trách là Bộ trưởng Nội vụ. Một dàn quân nhạc cử quốc thiều Việt – Mỹ và lá cờ đỏ sao vàng cùng lá cờ “sao và sọc” đứng song hành một cách trang trọng. Sau lễ ấy chính chủ nhà nói với vị khách của mình rằng: “Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà cờ nước chúng tôi được trương lên trong một buổi lễ quốc tế và quốc ca của chúng tôi được cử hành để chào mừng một vị khách nước ngoài”…

OSS là lực lượng nước ngoài duy nhất sát cánh cùng bộ đội của Việt Minh trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám. Lựa chọn sự hợp tác này, nhà lãnh đạo tối cao của cách mạng Việt Nam đã nhìn thấy trước kết cục của cuộc đại chiến nên đã đặt cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của mình vào đội ngũ của Đồng minh. Và đó cũng là sự chuẩn bị chủ động để ứng phó với các nước lớn trong tư thế kẻ thắng trận phải quan tâm tới lợi ích của các nước nhỏ, vốn là thuộc địa của chính các nước lớn. Cho dù có những mối quan hệ thân thiện và hợp tác, nhưng Mỹ cũng sớm gửi cho chúng ta thông điệp về sự không can dự vào cuộc mặc cả giữa Pháp và Trung Hoa Dân quốc, hai nước lớn của Đồng minh có trách nhiệm giải giáp quân đội phát xít Nhật tại Đông Dương.

Ngay ngày hôm sau, 27.8.1945, Bộ trưởng Nội vụ của Chính phủ Lâm thời Võ Nguyên Giáp đã đến gặp đại diện của Pháp, người đã đi nhờ phương tiện của OSS Mỹ để vào Việt Nam với ý đồ khẳng định sự có mặt trở lại của chủ quyền nước Pháp sau khi Nhật đầu hàng và trước khi quân đội Trung Hoa Dân quốc vượt biên giới vào phía Bắc vĩ tuyến 16 để giải giáp quân Nhật theo thoả thuận của các nước lớn tại Hội nghị Potsdam. Người đó là Jean Sainteny, đứng đầu cơ quan tình báo Pháp ở Viễn Đông (5è Mission) vốn là một chủ hãng bảo hiểm ở Hải Phòng.

A.Patti đã làm môi giới cho cuộc gặp này và kể lại trong hồi ức rằng, vị chính khách Pháp vẫn tư duy theo lối thực dân, vừa cảnh cáo người Việt Nam đừng nghĩ nước Pháp đã là khách mà nước Pháp vẫn là chủ, nhưng sẽ đáp ứng cho dân bản xứ những yêu sách thích hợp. Sainteny cũng khuyên Việt Nam nên hợp tác với Pháp để hạn chế sự có mặt của Trung Hoa trên một quốc gia luôn chứa chất trong ký ức về một thời bị phương Bắc đô hộ…

Người đại diện của Chính phủ Hồ Chí Minh lắng nghe, rồi như A.Patti mô tả: “Bằng một thứ tiếng Pháp hoàn hảo, với một sự kiềm chế tuyệt đối, Giáp nói, ông đến đây là theo lời mời của người đại diện cho “nước Pháp mới” không phải để nghe diễn thuyết… mà để sẵn sàng tham gia một cuộc trao đổi quan điểm (échange de vue) thân thiện”. Còn với lời răn đe của Sainteny cho biết ở Potsdam, chính vì thấy dân chúng Việt Nam chống đối nước Pháp nên các nguyên thủ Đồng minh mới giao cho Trung Hoa kéo quân vào giải giáp quân Nhật và điều đó sẽ mang lại nhiều hậu quả nghiêm trọng trong tương lai đối với người Việt Nam, thì với tư chất của một ông thầy dạy sử, Võ Nguyên Giáp điềm tĩnh đáp rằng, đây không phải lần đầu người Trung Hoa vào Việt Nam nhưng rồi họ cũng sẽ không thể ở lại được lâu… Và ông nói rằng, người Pháp cứ yên tâm vì Chính phủ lâm thời đủ sức không để cho người Trung Hoa quấy nhiễu người Pháp…

Một ngày sau cuộc gặp đó, ngày 28.8.1945, quân đội Trung Hoa đã vượt biên giới kéo vào miền Bắc nước ta. Đã hình thành một cuộc chạy đua thời gian để làm sao cho nước Việt Nam tuyên bố nền độc lập của mình trước khi các đạo quân viễn chinh nước ngoài kéo vào thủ đô Hà Nội.

A.Patti được chứng kiến một phần nỗ lực ấy khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư mời tới nơi đặt “bản doanh” tạm thời là một ngôi nhà tư của một gia đình buôn bán tại 48 phố Hàng Ngang. Ngoài việc được mời góp ý vào văn kiện Tuyên ngôn lịch sử này, A.Patti còn nhận được một lời đề nghị giúp chuyển tới người lãnh đạo cao nhất của nước mình thông điệp mong muốn Mỹ tham gia vào các hoạt động của Đồng minh giải quyết các vấn đề ở Việt Nam và kiến nghị phải cho “Chính phủ chúng tôi, chính quyền duy nhất hợp pháp ở Việt Nam, và là Chính phủ duy nhất đã chiến đấu chống Nhật (những hoạt động quân sự do Việt Minh và sĩ quan Mỹ tiến hành) có quyền có đại diện trong uỷ ban đó”. Bức điện đề ngày 30.8.1945 cũng do Võ Nguyên Giáp thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh ký đã được A.Patti đã gửi cho Đại sứ Mỹ ở Trùng Khánh để chuyển về Washington, mặc dầu ông tiên đoán rằng, Mỹ sẽ né tránh vì không muốn đụng tới lợi ích của 2 nước lớn cũng là 2 đồng minh quan trọng thời kỳ hậu chiến.

Một ngày, trước Lễ Độc lập (1.9.1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mời người đại diện Đồng minh duy nhất kịp có mặt vào thời điểm nước Việt Nam tuyên bố độc lập tới dự bữa cơm tại nơi làm việc chính thức của Chủ tịch Nước vốn là Bắc Bộ Phủ. Có một chi tiết A.Patti mô tả khi thuật lại cuộc gặp này, sau bữa ăn, bước tới bàn trà, vị Chủ tịch tự tay rót “cà phê kiểu Pháp” vào chiếc “tách sứ Trung Hoa” để mở đầu câu chuyện nói về nước Pháp thực dân đã gây bao tai họa cho người Việt Nam, nay muốn áp đặt trở lại những tai họa ấy và đạo quân Trung Hoa hơn 200.000 miệng ăn sẽ là một gánh nặng cho một nước Việt Nam còn đang chật vật khắc phục với một nạn đói vừa cướp đi hai triệu sinh mạng người Việt Nam.

Câu chuyện cũng nhắc tới một thế hệ Việt Nam tương lai phải tìm đến những nền văn minh mới, trong đó có nước Mỹ mà vị Chủ tịch đã từng đến từ khi còn trẻ và học được rất nhiều điều từ đó… Sau này, trong một lá thư gửi cho Chính phủ Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng gợi ý sẽ gửi 50 thanh niên Việt Nam ưu tú sang tiếp thu ngành nông nghiệp tiên tiến ở bên kia Thái Bình Dương v.v… Viên sĩ quan tình báo Mỹ hiểu rằng, những người lãnh đạo Việt Nam đã ý thức được vị thế của nước mình trong những ván cờ của các nước lớn để có những nước cờ khôn ngoan đủ sức vượt qua những thách đố của thời cuộc.

Ngày 2.3.1946, Quốc hội khoá đầu tiên được triệu tập, một Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến được thành lập, như tên gọi của nó, nhằm tập hợp tối đa lực lượng dân tộc để sẵn sàng đương đầu với một cuộc chiến tranh vệ quốc một khi hoà bình không cứu vãn được. Võ Nguyên Giáp chuyển sang làm Chủ tịch Quân uỷ hội trực tiếp chuẩn bị cho những tình huống xấu nhất; chức Bộ trưởng Nội vụ quan trọng được trao cho một vị nhân sĩ yêu nước nổi tiếng là Huỳnh Thúc Kháng; Bộ Ngoại giao cũng trao cho một lãnh tụ của một đảng đối lập thân Trung Hoa là Nguyễn Tường Tam.

A.Patti cũng cho biết trong hồi ký của mình là, chính Võ Nguyên Giáp theo lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhờ Patti chuyển thư qua cơ quan AGAS (cơ quan hỗ trợ mặt đất) của Mỹ ở Trung Quốc tới Nguyễn Tường Tam đang sống lưu vong ở đó để báo tin: “Việt Minh đã thành lập Chính phủ Cộng hoà Lâm thời. Nhân danh cá nhân, tôi mời ông về Hà Nội” (bức điện được chuyển trong ngày 31.8.1945).

Chỉ một vài ngày sau khi Quốc hội họp và Chính phủ mới ra mắt, tình hình đã trở nên phức tạp khi Pháp và Trung Hoa Dân quốc đã tiến hành các thoả thuận để Pháp thay thế quân Trung Hoa ở Bắc Kỳ đổi lại việc Pháp trả một số tô giới và giao lại đoạn đường sắt của tuyến Hải Phòng – Vân Nam nằm trên lãnh thổ Trung Hoa. Không thể đứng ngoài những toan tính riêng của các nước lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết đi một nước cờ táo bạo để chủ động nhập cuộc.

Sau rất nhiều lần thăm dò giữa hai bên, quan điểm của Việt Nam đòi được độc lập và Bắc – Trung – Nam Kỳ là một quốc gia thống nhất bị phía Pháp bác bỏ và chỉ chấp nhận Việt Nam là một quốc gia tự trị và Nam Kỳ vẫn là thuộc địa của Pháp. Lợi dụng việc Pháp nóng lòng thực hiện thoả thuận với chính quyền Trung ương của Trung Hoa Quốc dân Đảng ở Trùng Khánh còn đang bị một số thế lực trong nội bộ đạo quân Trung Hoa có mặt ở Việt Nam chống đối, Chính phủ Việt Nam đặt vấn đề sẽ không chống lại việc quân Pháp thay thế quân Tưởng, nỗ lực ủng hộ việc đẩy quân Tưởng sớm ra khỏi Việt Nam, đổi lại Pháp ủng hộ một giải pháp mềm mỏng hơn…

Ngày 5.3.1946, quân Pháp đã chuẩn bị đổ bộ vào Hải Phòng, nguy cơ bùng phát chiến tranh với quân Tưởng đã kề cận. Tối hôm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Sainteny thương lượng đến quá nửa đêm mới giải quyết được vấn đề Nam Kỳ sẽ quyết định sau một cuộc trưng cầu dân ý nhưng việc nước Việt Nam hưởng quyền độc lập hay tự trị thì chưa ngã ngũ.

Sáng 6.3.1946, quân Tưởng bắt đầu nổ súng ngăn quân Pháp kéo vào Hải Phòng, hai bên bắt đầu dàn quân chuẩn bị đánh nhau to. Buổi trưa, ở Hà Nội cuộc đàm phán Việt – Pháp được nối lại và nhanh chóng tìm ra giải pháp. Và 4 giờ rưỡi chiều hôm đó, tại ngôi nhà 38 Lý Thái Tổ (vốn là một Câu lạc bộ sĩ quan cũ), hai bên đã thống nhất văn bản bằng việc ông Hoàng Minh Giám, lúc này vẫn là Thứ trưởng Bộ Nội vụ, đọc to bằng tiếng Pháp trước các thành viên của hai bên; tiếp đó phía Pháp là Sainteny, Cao uỷ Pháp ở miền Bắc Đông Dương, Pignon và Caput là người đứng đầu Chi nhánh Đảng Xã hội Pháp (SFIO) đã ký. Về phía Việt Nam, ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam không ký (đơn giản vì quân Trung Hoa rút là ông ta mất chỗ dựa) thì ta khôn khéo vận động Vũ Hồng Khanh, người của Quốc dân Đảng đang giữ chức Phó cho Võ Nguyên Giáp trong Chính phủ, vốn mâu thuẫn với Nguyễn Tường Tam chấp nhận ký vào văn bản.

Việc ký kết diễn ra với sự chứng kiến của một số quan chức ngoại giao như Lãnh sự Mỹ Sullivan, Công sứ Anh Wilson và Công sứ Trung Hoa Dân quốc Vương Tư Kiên. Đây cũng là văn kiện ngoại giao đầu tiên trong lịch sử, Nhà nước ta ký kết với một quốc gia khác với sự chứng kiến quốc tế

Trong văn bản được ký kết, thường được gọi là Hiệp định Sơ bộ, Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (libre) có Chính phủ, Quốc hội, Quân đội và Tài chính riêng, là thành viên Khối Liên hiệp Pháp và Liên bang Đông Dương; Chính phủ Pháp cam đoan sẽ thừa nhận quyết định của cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất ba Kỳ. Việt Nam thuận cho việc 15.000 quân Pháp vào miền Bắc để thay thế quân Trung Hoa Dân quốc giải giáp quân Nhật và sau 5 năm sẽ rút hết; hai bên sẽ đình chiến và tiến hành các cuộc đàm phán chính thức ở Hà Nội, Sài Gòn hay Paris để bản tiếp về quyền ngoại giao, quy chế Đông Dương và quyền lợi kinh tế của Pháp…

Giải quyết được căn bản những khúc mắc bước đầu trong mối quan hệ với Pháp, đạt được mục tiêu đẩy 200.000 quân Trung Hoa về nước, nhưng vấn đề còn lại là làm cho đồng bào của mình chia sẻ được với tính toán của người lãnh đạo trên bước đường giành độc lập hoàn toàn với Pháp và đặc biệt là thoát khỏi phải dây dưa với một nước Trung Hoa nhiều hệ lụy lịch sử.

Với một dân tộc vừa hào hứng tiến hành cuộc nổi dậy trên toàn quốc để lật đổ ách đô hộ của thực dân, vừa tuyên bố độc lập nay phải chấp nhận để thực dân Pháp đem quân trở lại miền Bắc với nhiều hiểm họa khôn lường nảy sinh rất nhiều bức xúc trong dân và bị các thế lực thù địch khai thác để chống phá nhà nước non trẻ. Trong hồi ức những người đương thời đã ghi nhận biết bao nhiêu tâm tư tựa như bức thư gửi từ Paris của những người đồng chí cũ của Nguyễn Ái Quốc hoạt động bên Pháp: “Chúng tôi chịu ảnh hưởng sự huấn luyện của anh từ năm 1925 lúc anh gây nên phong trào chống đế quốc… Không ngờ! ngày mồng 6 tháng 3, chúng tôi thất vọng” (Thư của Hoàng Quang Giụ, Nguyễn Văn Tư, Vũ Văn Tân)…

Vì vậy, ngay chiều hôm sau ngày ký kết, 7.1.1946, trước hàng vạn đồng bào tập trung ở Quảng trường Nhà hát Thành phố, nơi chứng kiến những cuộc biểu dương lực lượng và ý chí chống thực dân ở thủ đô, sau bài giải trình nội dung Bản Hiệp ước Sơ bộ của Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Hồ Chí Minh dõng dạc khẳng định: “Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là độc lập, thống nhất, cuộc đấu tranh còn lâu dài, gian khổ. Ta sẽ nhận cho 15.000 quân Pháp vào thay thế quân đội Tưởng Giới Thạch, sau 5 năm Pháp sẽ rút hết quân đội về nước. Chúng ta phải tin vào Chính phủ, phải đoàn kết, phải tiếp tục chiến đấu. Riêng tôi, tôi hứa với đồng bào: Hồ Chí Minh nhất định không bao giờ bán nước!”…

Để vượt qua được những thử thách ấy là vô cùng khó khăn. Mang tất cả uy tín của mình vào lời hứa và cũng nhờ cái uy tín được hun đúc cả một đời người hoạt động cách mạng của một lãnh tụ, công cuộc bảo vệ nền độc lập non trẻ mới vượt qua được những thử thách ban đầu trước những ý đồ của các nước lớn. Đó là bài học cách đây ngót bảy mươi năm và cũng mãi mãi là bài học cho những ai muốn làm người lãnh đạo chèo lái con thuyền của dân tộc.

Dương Trung Quốc (Lao Động)

Advertisements
%d bloggers like this: